![]() |
| Sau khi điều chỉnh, doanh nghiệp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt sẽ được kê khai, khấu trừ số thuế đầu vào tương ứng. Ảnh: VH. |
Điều kiện khấu trừ thuế với hàng mua trả chậm, trả góp
Một trong những nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế GTGT (sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025) là việc điều chỉnh quy định liên quan đến chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp.
Theo quy định mới, hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên, doanh nghiệp được căn cứ vào hợp đồng bằng văn bản, hóa đơn và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để thực hiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán, thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Tuy nhiên, đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, nếu không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, doanh nghiệp phải kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã được khấu trừ tương ứng với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ chưa đáp ứng điều kiện thanh toán.
Không chỉ vậy, quy định mới cũng tạo cơ chế “mở” cho doanh nghiệp trong trường hợp hoàn thiện chứng từ sau thời điểm điều chỉnh. Theo đó, sau khi điều chỉnh, doanh nghiệp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, thì được kê khai, khấu trừ số thuế đầu vào tương ứng tại kỳ tính thuế phát sinh chứng từ thanh toán.
Theo đánh giá, quy định góp phần tăng tính minh bạch trong giao dịch tài chính, hạn chế tình trạng hợp thức hóa hồ sơ nhằm khấu trừ thuế không đúng quy định.
Bên cạnh nội dung liên quan đến thanh toán không dùng tiền mặt, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi quy định về nguyên tắc phân bổ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng thời cho hoạt động chịu thuế và không chịu thuế.
Theo đó, doanh nghiệp phải hạch toán riêng phần thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ. Trường hợp không hạch toán riêng được, thì số thuế được khấu trừ sẽ tính theo tỷ lệ doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT trên tổng doanh thu bán ra trong kỳ tính thuế.
Trong đó, tổng doanh thu làm căn cứ phân bổ, bao gồm doanh thu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế; doanh thu không chịu thuế; giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý và cả doanh thu của một số hàng hóa, dịch vụ không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định của Luật thuế GTGT sửa đổi.
Riêng doanh thu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng. Doanh thu của hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán được xác định theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Doanh thu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xác định theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT quy định tại khoản này bao gồm cả doanh thu của hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT (nếu có) quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật thuế GTGT số 48/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15.
![]() |
| Thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến trong hoạt động mua sắm bán lẻ. Ảnh: TN. |
Bổ sung thêm đối tượng không chịu thuế GTGT
Ngoài các nội dung liên quan đến khấu trừ thuế, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng bổ sung và làm rõ nhiều nhóm đối tượng không chịu thuế GTGT, đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính - ngân hàng và xuất khẩu tài nguyên khoáng sản.
Cụ thể, Nghị định bổ sung khoản 3a vào Điều 4 của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP, quy định nhiều loại hình bảo hiểm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Trong đó có bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, bảo hiểm nông nghiệp và một số dịch vụ tái bảo hiểm theo quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Đáng chú ý, quy định mới còn mở rộng đối tượng miễn thuế đối với bảo hiểm các công trình dầu khí, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam và vùng biển chồng lấn khai thác chung.
Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, Nghị định sửa đổi quy định liên quan đến hoạt động bán nợ. Theo đó, “bán nợ” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT sẽ bao gồm cả bán khoản phải trả, khoản phải thu và bán chứng chỉ tiền gửi.
Việc mở rộng nhóm dịch vụ bảo hiểm không chịu thuế GTGT sẽ góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời khuyến khích phát triển thị trường bảo hiểm trong các lĩnh vực nông nghiệp, giáo dục và năng lượng.
Đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đây được xem là bước điều chỉnh phù hợp với thực tiễn hoạt động tài chính hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh thị trường mua bán nợ và xử lý tài sản tài chính đang ngày càng phát triển.
Đối với hoạt động xuất khẩu tài nguyên khoáng sản, Nghị định tiếp tục thể hiện định hướng hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô. Theo quy định mới, các sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản chưa chế biến hoặc đã chế biến nhưng thuộc danh mục không khuyến khích xuất khẩu sẽ thuộc nhóm không chịu thuế GTGT. Danh mục cụ thể được quy định tại các phụ lục ban hành kèm theo Nghị định.
Nghị định cũng giao Bộ Công Thương chủ trì xác định, đề xuất điều chỉnh danh mục sản phẩm tài nguyên khoáng sản xuất khẩu trong trường hợp cần thiết, trên cơ sở phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và định hướng quản lý tài nguyên của Nhà nước từng thời kỳ.
Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 20/6/2026.