![]() |
| Ảnh minh họa |
Làm rõ hồ sơ chi phí được trừ, ưu đãi thuế
Một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo Thông tư là quy định chi tiết hồ sơ của khoản chi được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN theo quy định của Luật thuế TNDN. Việc làm rõ yêu cầu về hồ sơ, chứng từ đối với từng khoản chi nhằm khắc phục tình trạng doanh nghiệp lúng túng trong thực tiễn, đồng thời hạn chế rủi ro bị loại chi phí khi thanh tra, kiểm tra thuế.
Bên cạnh đó, dự thảo quy định cụ thể hồ sơ áp dụng ưu đãi thuế đối với các trường hợp được hưởng ưu đãi theo Điều 4, Điều 13, Điều 14 và Điều 15 của Luật thuế TNDN. Cụ thể, doanh nghiệp được trao quyền tự xác định điều kiện miễn thuế, ưu đãi thuế, mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn, giảm thuế và số lỗ được trừ vào thu nhập chịu thuế để kê khai, quyết toán với cơ quan thuế. Đây là cách tiếp cận phù hợp với nguyên tắc tự khai, tự nộp trong quản lý thuế hiện đại.
Tuy nhiên, dự thảo cũng nhấn mạnh rõ trách nhiệm của người nộp thuế. Trường hợp qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền kết luận doanh nghiệp không đáp ứng đủ điều kiện để áp dụng miễn thuế, ưu đãi thuế hoặc thuế suất ưu đãi, thì sẽ bị truy thu thuế, tính tiền chậm nộp và xử phạt theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm bảo đảm kỷ cương pháp luật, tránh tình trạng lợi dụng chính sách ưu đãi để trốn, tránh thuế.
Đối với dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo Điều 19 và Điều 20 của Nghị định số 320/2025/NĐ-CP, dự thảo yêu cầu dự án phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cho phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư hoặc pháp luật chuyên ngành.
Trường hợp dự án không thuộc diện phải cấp các loại giấy tờ nêu trên, nhà đầu tư vẫn phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo với cơ quan đăng ký đầu tư trước khi triển khai dự án theo mẫu quy định. Điều này góp phần tăng cường tính minh bạch, thống nhất giữa pháp luật thuế và pháp luật đầu tư.
Làm rõ thời điểm tính doanh thu thuế trong trường hợp đặc thù
Dự thảo cũng quy định thời điểm xác định doanh thu tính thuế TNDN trong một số trường hợp đặc thù theo Nghị định số 320/2025/NĐ-CP.
Đối với doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam, thời điểm xác định doanh thu được quy định cụ thể theo từng loại hình hoạt động, như xuất khẩu hàng hóa, vận tải hàng không, xây dựng – lắp đặt, cung cấp điện, nước.
Việc xác định rõ mốc thời gian tính doanh thu giúp doanh nghiệp chủ động trong công tác kế toán, kê khai thuế và hạn chế tranh chấp với cơ quan thuế.
Đối với doanh nghiệp nước ngoài, dự thảo làm rõ thời điểm xác định doanh thu đối với các hoạt động như chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh, chuyển nhượng chứng khoán phái sinh, chứng khoán, chứng chỉ tiền gửi hay tín phiếu kho bạc. Theo đánh giá, quy định này phù hợp với đặc thù hoạt động xuyên biên giới và thông lệ quốc tế, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc xác định nghĩa vụ thuế tại Việt Nam.
Một nội dung quan trọng khác là hồ sơ kê khai và nộp thuế đối với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có thu nhập từ dự án đầu tư tại nước ngoài. Theo đề xuất, doanh nghiệp phải thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, trong đó bao gồm các chứng từ chứng minh số thuế đã nộp ở nước ngoài như tờ khai thuế thu nhập và chứng từ nộp thuế có xác nhận hợp lệ. Đây là căn cứ quan trọng để áp dụng cơ chế khấu trừ hoặc miễn trừ thuế, tránh đánh thuế trùng đối với cùng một khoản thu nhập.
Đáng chú ý, các quy định tại dự thảo cũng đã tiếp tục làm rõ nghĩa vụ thuế TNDN đối với doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam, bao gồm nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài, kể cả các doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số. Theo đó, thuế TNDN được xác định theo tỷ lệ % trên doanh thu tính thuế trong trường hợp doanh nghiệp nước ngoài không áp dụng chế độ kế toán Việt Nam hoặc không đăng ký thuế tại Việt Nam.
Dự thảo cũng quy định cụ thể cách xác định doanh thu tính thuế, bao gồm toàn bộ doanh thu mà nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài nhận được, chưa trừ các khoản thuế phải nộp và bao gồm cả các chi phí do bên Việt Nam trả thay.
Đồng thời, dự thảo liệt kê rõ các trường hợp không thuộc diện áp dụng thuế TNDN, như cung cấp hàng hóa không kèm dịch vụ thực hiện tại Việt Nam, hoặc các dịch vụ sửa chữa, quảng cáo, xúc tiến thương mại được thực hiện hoàn toàn ở nước ngoài. Những quy định này giúp phân định rõ ranh giới nghĩa vụ thuế, tránh áp dụng tràn lan.
Với hiệu lực dự kiến áp dụng từ kỳ tính thuế TNDN năm 2025, dự thảo khi được ban hành sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số.