Thứ bảy 05/09/2026 13:08
Thời tiết: Hà Nội 30°C
Đà Nẵng 32°C
Cà Mau 33°C
Hải Phòng 31°C
TP Hồ Chí Minh 34°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050

Bảo Trân
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050.
Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050
Hoạt động xuất nhập khẩu tại khu vực cảng Hải Phòng. Ảnh: Thái Bình

Phấn đấu tốc độ tăng trưởng 12% - 15%

Chiến lược phấn đấu trong giai đoạn 2025 - 2035, tỷ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong tổng sản phẩm trong nước đạt 5% - 7%. Tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành dịch vụ logistics hằng năm đạt 12% - 15%. Tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 70% - 80%. Chi phí logistics so với tổng sản phẩm trong nước giảm xuống tương đương 12% - 15%; xếp hạng theo Chỉ số hiệu quả logistics (LPI - do Ngân hàng Thế giới công bố) trong nhóm 40 quốc gia và vùng lãnh thổ hàng đầu. Số lượng doanh nghiệp dịch vụ logistics sử dụng các giải pháp chuyển đổi số đạt 80% số doanh nghiệp logistics Việt Nam.

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược nhằm phát triển dịch vụ logistics Việt Nam bền vững, hiệu quả, chất lượng và có giá trị gia tăng cao, năng lực cạnh tranh tốt, phát huy lợi thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.

Dịch vụ logistics phát triển hiệu quả theo hướng giảm phát thải, chuyển đổi sang các nguồn năng lượng xanh. 70% người lao động trong ngành dịch vụ logistics được đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong đó 30% có trình độ đại học trở lên. Trong giai đoạn này xây dựng được ít nhất 05 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại ngang tầm quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với chuỗi cung ứng trong khu vực và quốc tế.

Xây dựng được ít nhất 10 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại

Giai đoạn đến năm 2050, tỷ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong tổng sản phẩm trong nước đạt 7% - 9%. Tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành dịch vụ logistics hằng năm đạt 10% - 12%. Tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 80% - 90%. Chi phí logistics so với tổng sản phẩm trong nước giảm xuống tương đương 10% - 12%. Xếp hạng theo Chỉ số hiệu quả logistics (LPI - do Ngân hàng Thế giới công bố) trong nhóm 30 quốc gia và vùng lãnh thổ hàng đầu.

Số lượng doanh nghiệp dịch vụ logistics sử dụng các giải pháp chuyển đổi số đạt 100% số doanh nghiệp logistics Việt Nam. Dịch vụ logistics tiếp tục phát triển hiệu quả theo hướng giảm phát thải, góp phần đưa phát thải ròng của quốc gia về 0. 90% người lao động trong ngành dịch vụ logistics được đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong đó 50% có trình độ đại học trở lên và xây dựng được ít nhất 10 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại ngang tầm quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với chuỗi cung ứng trong khu vực và quốc tế.

Chiến lược đưa ra định hướng tạo đột phá trong xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ logistics, thúc đẩy hội nhập quốc tế, tăng cường quản lý nhà nước và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật đối với dịch vụ logistics theo cơ chế thị trường, thích hợp với trình độ phát triển kinh tế đất nước và phù hợp với thông lệ, luật pháp quốc tế.

Đẩy mạnh đầu tư xây dựng, hình thành và phát triển kết cấu hạ tầng logistics đồng bộ, hiện đại, chú trọng hạ tầng giao thông vận tải, hạ tầng thương mại và hạ tầng số, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thúc đẩy liên kết các ngành, lĩnh vực, các vùng lãnh thổ, khu vực và quốc tế phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, nội vùng, liên vùng và cả nước theo từng giai đoạn phát triển làm cơ sở để phát triển dịch vụ logistics.

Đồng thời, xây dựng nguồn hàng, phát triển thị trường logistics, bảo đảm tăng trưởng bền vững ngành dịch vụ logistics; nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp dịch vụ logistics, đồng thời nâng cao chất lượng và xanh hóa các hoạt động dịch vụ logistics dựa trên nền tảng số. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong lĩnh vực dịch vụ logistics, nâng cao hiệu quả hoạt động logistics gắn với sản xuất, xuất nhập khẩu, lưu thông phân phối trong nước và quốc tế.

Cùng với đó là phát triển nguồn nhân lực logistics chất lượng cao nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ logistics. Nâng cao vai trò của các hiệp hội và các doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực dịch vụ logistics, thúc đẩy hình thành các chuỗi cung ứng hiện đại, phát triển đa dạng các dịch vụ logistics giá trị gia tăng đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế, đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển và phân phối hàng hóa của thế giới.

Các giải pháp, nhiệm vụ của Chiến lược đặt ra gồm: Hoàn thiện thể chế pháp luật, tăng cường quản lý nhà nước và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật đối với dịch vụ logistics; Đẩy mạnh đầu tư xây dựng, hình thành và phát triển kết cấu hạ tầng logistics đồng bộ, hiện đại; Thúc đẩy liên kết vùng trong phát triển dịch vụ logistics; Xây dựng nguồn hàng, phát triển thị trường logistics; Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ logistics và chất lượng dịch vụ logistics; Đẩy mạnh nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong lĩnh vực dịch vụ logistics; Phát triển nguồn nhân lực logistics chất lượng cao; Nâng cao vai trò của các hiệp hội và các doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực dịch vụ logistics...

Chiến lược cũng đặt yêu cầu đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp hoàn chỉnh hệ thống vận tải, trung tâm logistics hỗ trợ phát triển các chuỗi cung ứng nông sản qua đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, phát triển một số loại hình vận tải mới, thuận lợi, tiết kiệm chi phí vận chuyển nội địa, chi phí logistics. Hình thành các chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản tại các vùng nguyên liệu chủ lực để cung cấp nông sản đảm bảo chất lượng, an toàn và bền vững thông qua hệ thống trung tâm logistics nông sản.

Đẩy mạnh đầu tư xây dựng, phát triển các khu thương mại tự do gắn với cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu biên giới và các khu vực sản xuất hàng hóa trọng điểm; tập trung hoàn thiện các cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh tạo thuận lợi cho logistics phục vụ thương mại điện tử, bao gồm thương mại điện tử xuyên biên giới. Hình thành các trung tâm đầu mối phân loại, chia chọn hàng thương mại điện tử, xử lý đơn hàng trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại, đảm bảo giải quyết nhanh, khối lượng lớn hàng hóa một cách thông suốt, an toàn.

TỪ KHOÁ:

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tiếp nhận hồ sơ miễn trừ phòng vệ thương mại đối với 21 mã vụ việc

Tiếp nhận hồ sơ miễn trừ phòng vệ thương mại đối với 21 mã vụ việc

Doanh nghiệp đáp ứng điều kiện có thể nộp hồ sơ đề nghị miễn trừ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại cho thời kỳ năm 2026 tại 21 mã vụ việc theo thông báo của Bộ Công Thương. Các vụ việc trong danh sách liên quan đến nhiều mặt hàng như thép, nhôm, đường mía, bột ngọt, sorbitol, vật liệu hàn, bàn ghế và thiết bị điện gió.
Xuất khẩu thép vào EU cần lưu tâm 4 vấn đề

Xuất khẩu thép vào EU cần lưu tâm 4 vấn đề

Theo Quy định thực thi (EU) 2026/1963 của Uỷ ban châu Âu (EC), từ ngày 1/10/2026, doanh nghiệp thép Việt Nam sẽ phải đáp ứng yêu cầu cao hơn về khả năng truy xuất nguồn gốc, chứng minh nơi “nấu chảy và đúc” và số mẻ luyện bằng hồ sơ có thể kiểm chứng. Chỉ một khoảng trống trong chuỗi dữ liệu cũng có thể làm gia tăng rủi ro khi thông quan, TS. Hà Thị Thanh Hoa, Phó Trưởng khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh chia sẻ với phóng viên Tạp chí kinh tế - Tài chính về rủi ro có thể phát sinh và những vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý để hàng hóa không bị ách tắc tại cửa khẩu EU.
Không gia hạn thuế chống bán phá giá với sorbitol nhập khẩu

Không gia hạn thuế chống bán phá giá với sorbitol nhập khẩu

Bộ Công Thương quyết định không gia hạn việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm sorbitol có xuất xứ từ Ấn Độ, Indonesia và Trung Quốc. Quyết định có hiệu lực từ ngày 23/11/2026.
Việt Nam - Myanmar: Thúc đẩy kim ngạch hai chiều sớm đạt 1 tỷ USD

Việt Nam - Myanmar: Thúc đẩy kim ngạch hai chiều sớm đạt 1 tỷ USD

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Myanmar Min Aung Hlaing và Phu nhân từ ngày 4-6/9/2026 tạo thêm động lực mới cho quan hệ hai nước, nhất là hợp tác kinh tế - thương mại. Trên nền tảng quan hệ hữu nghị và dư địa thị trường còn rộng mở, Việt Nam và Myanmar có nhiều cơ hội thúc đẩy giao thương ngày càng thực chất, hiệu quả, bền vững.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiến sát 50 tỷ USD

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiến sát 50 tỷ USD

Tám tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Rau quả, thủy sản, sản phẩm chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng, trong khi, cà phê, gạo, cao su cho thấy áp lực về giá và lượng, đặt ra yêu cầu cần nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Ngành điều cần thúc đẩy chế biến chuyên sâu để tiến vào các phân khúc giá trị cao

Ngành điều cần thúc đẩy chế biến chuyên sâu để tiến vào các phân khúc giá trị cao

Việt Nam đang cung cấp gần 90% lượng hạt điều nhập khẩu vào Hoa Kỳ và tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu tại Đức. Tuy nhiên, khi kim ngạch tăng chủ yếu nhờ giá, cơ cấu sản phẩm biến động và các nước trồng điều đẩy mạnh chế biến, ngành điều cần chuyển nhanh từ lợi thế quy mô sang chất lượng, chế biến sâu và khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng.
Hà Nội nỗ lực hoàn thành mục tiêu xuất khẩu năm 2026 đạt khoảng 23,3 tỷ USD

Hà Nội nỗ lực hoàn thành mục tiêu xuất khẩu năm 2026 đạt khoảng 23,3 tỷ USD

Tám tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của TP. Hà Nội duy trì đà tăng tích cực; nhập khẩu tăng mạnh cho thấy sản xuất, đầu tư mở rộng, trong khi xuất khẩu phục hồi rõ nét. Kết quả này tạo nền tảng để Thành phố tăng tốc cuối năm, góp phần đạt mục tiêu GRDP tăng trưởng hai con số.
Doanh nghiệp cần lập một bộ hồ sơ chuẩn để tránh bị "kẹt" ngay trước cửa khẩu

Doanh nghiệp cần lập một bộ hồ sơ chuẩn để tránh bị "kẹt" ngay trước cửa khẩu

Tại Quyết định BPJPH số 4/2026, Indonesia thắt chặt việc kiểm soát sản phẩm halal nhập khẩu từ nước ngoài. Theo chuyên gia, ThS. La Quí Dương, Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, đây không chỉ là thêm một thủ tục, mà là phép thử đối với năng lực chuẩn hóa và kiểm soát chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam.
Kết nối chuỗi cung ứng, mở cơ hội xuất khẩu cho hàng Việt

Kết nối chuỗi cung ứng, mở cơ hội xuất khẩu cho hàng Việt

Tham dự triển lãm "Viet Nam International Sourcing 2026", các doanh nghiệp Việt Nam thêm cơ hội kết nối trực tiếp với các đối tác quốc tế, nắm bắt yêu cầu thị trường và mở rộng xuất khẩu.
Lạng Sơn thông quan trên 8.900 phương tiện chở hàng dịp nghỉ lễ 2/9

Lạng Sơn thông quan trên 8.900 phương tiện chở hàng dịp nghỉ lễ 2/9

Dịp nghỉ lễ 2/9, trên 8.900 phương tiện hàng hóa xuất nhập khẩu được thông quan qua các cửa khẩu Lạng Sơn, góp phần duy trì lưu chuyển nông sản ổn định.
Xuất nhập khẩu 8 tháng vượt 770 tỷ USD

Xuất nhập khẩu 8 tháng vượt 770 tỷ USD

Tám tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tiếp tục mở rộng, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên mức cao nhất từ trước đến nay. Xuất khẩu tăng khá, song nhập khẩu tăng nhanh hơn, phản ánh nhu cầu sản xuất, đầu tư, đồng thời đặt ra yêu cầu cần nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức tự chủ của nền kinh tế.
Nhập khẩu tăng mạnh, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất

Nhập khẩu tăng mạnh, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất

Kim ngạch nhập khẩu tăng cao làm dấy lên những lo ngại về con số nhập siêu. Nhưng nhìn ở một khía cạnh tích cực khác, việc tăng trưởng nhập khẩu cũng cho thấy các doanh nghiệp đang chủ động ổn định nguồn nguyên phụ liệu; máy móc, thiết bị… để đảm bảo sản xuất ổn định trong bối cảnh tình hình địa chính trị thế giới nhiều biến động dẫn đến nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu luôn hiện hữu.
Xuất khẩu rau quả tiến gần mốc 6 tỷ USD

Xuất khẩu rau quả tiến gần mốc 6 tỷ USD

Xuất khẩu rau quả của Việt Nam ghi nhận những tín hiệu tích cực khi kim ngạch xuất khẩu 8 tháng năm 2026 đạt xấp xỉ 5,87 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước.
Đà Nẵng tăng tốc xuất khẩu và duy trì đà xuất siêu

Đà Nẵng tăng tốc xuất khẩu và duy trì đà xuất siêu

Tháng 8/2026, xuất khẩu hàng hóa của TP. Đà Nẵng tăng trưởng hai con số, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu 8 tháng năm 2026 lên hơn 3,4 tỷ USD và duy trì đà xuất siêu. Kết quả này cho thấy, sức bật thương mại đang được củng cố, đồng thời đặt ra yêu cầu khai thác hiệu quả hơn thị trường, logistics và chuỗi liên kết khu vực.
Dự báo năm 2026 xuất khẩu cà phê sẽ tăng 8-10% so với cùng kỳ

Dự báo năm 2026 xuất khẩu cà phê sẽ tăng 8-10% so với cùng kỳ

Xuất khẩu cà phê Việt Nam được dự báo tiếp tục duy trì đà tích cực trong những tháng cuối năm 2026, với sản lượng cả năm có thể tăng 8-10% so với năm 2025. Nguồn cung cải thiện cùng nhu cầu Robusta gia tăng được kỳ vọng tạo thêm cơ hội cho cà phê Việt Nam.