![]() |
| Ảnh minh họa. |
Phóng viên: Nghị định số 246/2026/NĐ-CP có bổ sung nhiều quy định liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) thủy sản. Theo ông, đâu là những điểm mới đáng chú ý?
TS, Luật sư Lê Bá Thường: Điểm nổi bật là Nghị định đã cụ thể hóa các hành vi vi phạm trong hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu thủy sản, đặc biệt đối với thủy sản có nguồn gốc từ khai thác.
|
Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến giấy phép và các thủ tục hành chính (TTHC) thì nay trách nhiệm đã được mở rộng sang toàn bộ quá trình khai báo, lưu trữ hồ sơ, thực hiện chế độ báo cáo và chứng minh nguồn gốc hợp pháp của lô hàng.
Điều này phản ánh xu hướng quản lý hiện đại, lấy truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng làm trọng tâm, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) mà nhiều thị trường nhập khẩu hiện đang áp dụng.
Có thể nói, Nghị định không chỉ tăng cường tính răn đe mà còn tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn để doanh nghiệp chủ động nhận diện, kiểm soát rủi ro trong hoạt động XNK.
Đáng chú ý, Điều 44 của Nghị định quy định cụ thể từng nhóm hành vi vi phạm. Chẳng hạn, doanh nghiệp không gửi báo cáo sản lượng thực tế, thành phần loài nhập khẩu sau phân loại hoặc không báo cáo đầy đủ thông tin bốc dỡ hàng hóa qua cảng sẽ bị xử phạt từ 20 đến 30 triệu đồng.
Mức phạt từ 30 đến 50 triệu đồng được áp dụng đối với các hành vi như: không khai báo hoặc khai báo không đúng quy định đối với thủy sản nhập khẩu có nguồn gốc từ khai thác được vận chuyển bằng tàu container; không cung cấp hồ sơ phục vụ thanh tra, kiểm tra; hoặc nhập khẩu khi chưa có thông báo của cơ quan có thẩm quyền.
Đối với các vi phạm nghiêm trọng hơn như: nhập khẩu không đúng nội dung hồ sơ đã khai báo hoặc không lưu giữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh nguồn gốc hợp pháp của thủy sản khai thác nhập khẩu, mức xử phạt được nâng lên từ 50 đến 70 triệu đồng.
Theo tôi, doanh nghiệp không nên xem đây chỉ là những yêu cầu về thủ tục. Hồ sơ, chứng từ và dữ liệu truy xuất nguồn gốc hiện đã trở thành căn cứ quan trọng để cơ quan quản lý cũng như các đối tác nước ngoài đánh giá tính hợp pháp của hàng hóa.
Phóng viên: Một trong những nội dung được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là quy định xử phạt đối với thủy sản có nguồn gốc khai thác bất hợp pháp. Theo ông, quy định này có ý nghĩa như thế nào đối với hoạt động XNK thủy sản?
TS, Luật sư Lê Bá Thường: Đây là nhóm quy định có mức độ răn đe rất mạnh, thể hiện rõ quan điểm siết chặt quản lý đối với các hành vi liên quan đến thủy sản có nguồn gốc khai thác bất hợp pháp (IUU). Thay vì áp dụng một mức xử phạt cố định, Nghị định quy định mức phạt tăng dần theo khối lượng lô hàng vi phạm, qua đó bảo đảm tính tương xứng với mức độ và quy mô của hành vi.
Theo đó, lô hàng dưới 100 kg bị xử phạt từ 50 đến 100 triệu đồng; từ 100 kg đến dưới 500 kg bị phạt từ 100 đến 300 triệu đồng; từ 500 kg đến dưới 1.000 kg bị phạt từ 300 đến 500 triệu đồng; từ 1.000 kg đến dưới 2.000 kg bị phạt từ 500 đến 800 triệu đồng; còn đối với lô hàng từ 2.000 kg trở lên, mức xử phạt có thể lên tới 1 tỷ đồng. Cơ chế xử phạt này cũng được áp dụng đối với hành vi xuất khẩu trái phép các loài thủy sản thuộc danh mục xuất khẩu có điều kiện nhưng không đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Đáng chú ý, chế tài không chỉ dừng lại ở xử phạt bằng tiền. Doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị tịch thu toàn bộ lô hàng, đình chỉ hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu từ 1 đến 3 tháng, buộc nộp lại toàn bộ khoản lợi bất hợp pháp thu được; trường hợp tang vật đã bị tiêu thụ hoặc tẩu tán thì phải nộp số tiền tương ứng với giá trị tang vật đó.
Theo tôi, cách tiếp cận này cho thấy cơ quan quản lý không chỉ xử lý hành vi vi phạm mà còn hướng đến việc loại bỏ hoàn toàn lợi ích kinh tế có được từ hành vi vi phạm. Đây cũng là xu hướng quản lý đang được nhiều quốc gia áp dụng nhằm tăng tính răn đe, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và góp phần xây dựng môi trường thương mại thủy sản minh bạch, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Phóng viên: Nghị định số 246/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 18/8/2026, theo ông, doanh nghiệp cần chuẩn bị những gì để hạn chế rủi ro pháp lý?
TS, Luật sư Lê Bá Thường: Theo tôi, khoảng thời gian từ nay đến khi Nghị định có hiệu lực là giai đoạn chuẩn bị quan trọng để doanh nghiệp chủ động rà soát và hoàn thiện hệ thống quản trị tuân thủ. Thay vì chờ đến khi phát sinh vi phạm hoặc bị xử lý, doanh nghiệp nên tận dụng thời gian này để đánh giá lại toàn bộ quy trình quản lý liên quan đến hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu thủy sản.
Trọng tâm cần rà soát là quy trình khai báo hải quan, chế độ báo cáo với cơ quan quản lý, việc lưu trữ hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của thủy sản cũng như khả năng đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc đối với từng lô hàng. Đây đều là những nội dung sẽ được cơ quan chức năng kiểm tra chặt chẽ theo quy định mới.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu thủy sản có nguồn gốc từ khai thác, việc chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu và các chứng cứ chứng minh tính hợp pháp của lô hàng là yêu cầu đặc biệt quan trọng. Trên thực tế, chỉ một sai sót nhỏ trong khâu khai báo hoặc lưu trữ hồ sơ cũng có thể dẫn đến nguy cơ bị xử phạt, làm chậm quá trình thông quan, phát sinh chi phí và ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ với đối tác.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về tính minh bạch và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng, tuân thủ pháp luật không còn đơn thuần là nghĩa vụ bắt buộc mà đã trở thành một yếu tố tạo dựng niềm tin và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp nên chủ động chuẩn hóa quy trình quản trị, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc hàng hóa, đây sẽ là giải pháp căn cơ để hạn chế rủi ro pháp lý, bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định và phát triển bền vững trong dài hạn.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!