![]() |
| Cà phê xuất khẩu của Việt Nam có lượng bán ra tăng, nhưng giá trị thu về giảm mạnh. |
Tăng lượng chưa đủ bù đắp đà giảm giá
Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam trong những tháng đầu năm 2026 đang chịu áp lực rõ rệt từ xu hướng giảm giá. Bối cảnh thế giới là một phần nguyên nhân, khi nguồn cung cà phê vụ mới tại Brazil được kỳ vọng gia tăng, khiến giá cà phê trên các sàn kỳ hạn điều chỉnh giảm trong những ngày đầu tháng 6/2026.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý trên thị trường cà phê xuất khẩu của Việt Nam là lượng bán ra vẫn tăng, nhưng giá trị thu về giảm mạnh. Mức giảm sâu hơn về kim ngạch so với sản lượng cho thấy yếu tố giá đang là sức ép lớn nhất đối với hoạt động xuất khẩu.
Theo số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam, tháng 5/2026, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 143,0 nghìn tấn, trị giá 639,4 triệu USD; so với tháng 4/2026, kết quả này giảm 24,7% về lượng và giảm 22,3% về trị giá.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cà phê đạt 927,3 nghìn tấn, trị giá 4,23 tỷ USD, tăng 7,8% về lượng nhưng giảm 13,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Đây là tín hiệu cần được nhìn nhận thận trọng, bởi lượng xuất khẩu tăng cho thấy cà phê Việt Nam vẫn giữ được sức tiêu thụ tại các thị trường nhập khẩu. Tuy nhiên, khi kim ngạch giảm trong bối cảnh lượng tăng, có thể thấy hiệu quả xuất khẩu đã bị bào mòn bởi giá bình quân đi xuống.
Tháng 5/2026, giá bình quân xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 4.471 USD/tấn, tăng 3,2% so với tháng 4/2026 nhưng giảm 21,8% so với tháng 5/2025. Lũy kế 5 tháng, giá bình quân xuất khẩu đạt 4.557 USD/tấn, giảm 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Từ đó cho thấy, mức tăng 7,8% về lượng không đủ bù cho mức giảm gần 20% về giá bình quân, khiến tổng kim ngạch xuất khẩu giảm.
Diễn biến này cũng phản ánh cà phê xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc lớn của vào biến động giá nguyên liệu trên thị trường quốc tế, khi giá thế giới giảm, giá trong nước lập tức chịu tác động. Ngày 9/6/2026, giá cà phê tại Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai cùng giảm 1.800 đồng/kg so với ngày 1/6/2026, dao động từ 85.000 - 85.600 đồng/kg, cùng ngày giá cà phê trên các sàn giao dịch quốc tế như: London, New York hay BMF của Brazil đều giảm.
London, New York hay BMF của Brazil đều giảm. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý thu mua, mà còn tạo sức ép lên doanh nghiệp xuất khẩu trong việc cân đối nguồn hàng, giá mua và hợp đồng giao hàng.
Như vậy, vấn đề trọng tâm của cà phê xuất khẩu hiện nay không chỉ là sản lượng, mà việc giá giảm sẽ khiến doanh nghiệp càng xuất khẩu nhiều hàng thô hoặc sản phẩm có giá trị gia tăng thấp thì càng dễ bị tổn thương trước chu kỳ cung - cầu toàn cầu; từ đó cho thấy bài toán nâng chất lượng, chế biến sâu và mở rộng thị trường giá trị cao cần được đặt ở vị trí trung tâm.
![]() |
| Một số thị trường xuất khẩu cà phê lớn của Việt Nam trong 5 tháng năm 2026. Nguồn: CHQ. |
Yêu cầu nâng cao giá trị trong chuỗi cung ứng
Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong những tháng qua vẫn duy trì sự hiện diện tại các khu vực tiêu thụ lớn. Châu Âu tiếp tục giữ vai trò quan trọng, trong đó Đức và Ý là những thị trường lớn, có nhu cầu tương đối ổn định, với mức tăng trong 5 tháng đầu năm 2026 lần lượt là 5,8% và 18,1% về lượng.
Trong khi đó, tại châu Mỹ, Hoa Kỳ tiếp tục là một trong những thị trường xuất khẩu chính của cà phê Việt Nam với kim ngạch lũy kế đạt 66.912 tấn, trị giá 291,974 triệu USD, tăng 23,2% về lượng nhưng giảm 2,2% về trị giá.
Với các thị trường có quy mô lớn như Đức, Ý, Hoa Kỳ, việc duy trì sản lượng là cần thiết, song dư địa tăng kim ngạch sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào cơ cấu sản phẩm và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn cao hơn.
Điểm sáng đáng chú ý của xuất khẩu cà phê nằm ở một số thị trường châu Á và thị trường mới nổi, điển hình như Trung Quốc nhập khẩu tăng 47,9% về lượng và tăng 70,7% về trị giá. Đây là mức tăng nổi bật trong nhóm thị trường xuất khẩu lớn, cho thấy nhu cầu tại Trung Quốc đang mở ra cơ hội đáng kể cho cà phê Việt Nam, nhất là trong bối cảnh tiêu dùng cà phê tại thị trường này có xu hướng mở rộng.
Ở góc độ ngành hàng, ông Phạm Thắng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam cho biết, các nhà vườn và doanh nghiệp Việt Nam đang tuân thủ nghiêm ngặt quy trình truy xuất nguồn gốc và kiểm dịch thực vật quốc tế.
Các đối tác Trung Quốc có thể tăng cường liên doanh, dịch chuyển công nghệ đóng gói và dây chuyền chế biến sâu về gần vùng nguyên liệu Việt Nam để hai bên cùng cộng hưởng thế mạnh, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng cho chuỗi cung ứng hạt cà phê, ông Thắng bày tỏ kỳ vọng.
Trong khi đó, thị trường Hàn Quốc lại cho thấy sức ép cạnh tranh rõ nét khi giá bình quân nhập khẩu cà phê từ thế giới trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt 8.855 USD/tấn, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2025; trong khi giá bình quân nhập khẩu cà phê từ Việt Nam giảm 10,2%, xuống 4.205 USD/tấn, dù Việt Nam vẫn đang là nguồn cung cà phê lớn thứ hai cho nước này.
Khoảng cách lớn giữa giá nhập khẩu bình quân của Hàn Quốc từ thế giới và từ Việt Nam đặt ra vấn đề về phân khúc sản phẩm, do cà phê Việt chủ yếu tham gia ở nhóm nguyên liệu hoặc sản phẩm có giá trị gia tăng thấp, khả năng cải thiện kim ngạch bị hạn chế, ngay cả khi vẫn giữ được vị trí nguồn cung lớn.
Áp lực tuân thủ cũng đang tăng lên khi nhiều quốc gia siết chặt quy định ghi nhãn đối với thực phẩm chế biến, caffeine và chất tạo ngọt; nhóm chịu tác động trực tiếp là cà phê hòa tan, cà phê pha sẵn và sản phẩm không đường. Điều này buộc doanh nghiệp xuất khẩu phải chủ động điều chỉnh nhãn mác, minh bạch thành phần, thông tin dinh dưỡng và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường.
Hướng đi quan trọng của cà phê Việt Nam trong giai đoạn tới không chỉ là tìm thêm đơn hàng, mà là nâng cấp giá trị trong chuỗi cung ứng, chuyển hóa lợi thế sản lượng thành lợi thế chất lượng, chế biến và thương hiệu. Đây cũng là điều kiện để cà phê Việt Nam giảm phụ thuộc vào biến động giá thô, giữ vững thị phần tại thị trường truyền thống, mở rộng thị phần và nâng vị thế trong chuỗi cung ứng cà phê toàn cầu.