![]() |
| Ngành Thuế đang quyết tâm thay đổi căn bản trong công tác quản lý thuế thương mại điện tử |
Lấp khoảng trống chính sách để thu đúng, thu đủ
Ngành Thuế đang thể hiện rõ quyết tâm trong đổi mới phương thức quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT.
Theo cơ quan Thuế, khuôn khổ pháp luật hiện nay về lĩnh vực này cơ bản đã được hoàn thiện, song thực tiễn phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0 và các mô hình kinh doanh mới vẫn đang tạo ra nhiều biến động, đòi hỏi tiếp tục cập nhật, bổ sung quy định để quản lý hiệu quả hơn.
Một số vấn đề mới phát sinh đang đặt ra yêu cầu mới trong quản lý thuế trên nền tảng số, như xác định đúng đối tượng chịu thuế trong các giao dịch trực tuyến, kiểm soát dòng tiền, hạn chế tình trạng trốn thuế và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa kinh doanh truyền thống với kinh doanh qua nền tảng số.
Yêu cầu đặt ra không chỉ nhằm giữ vững nguồn thu ngân sách nhà nước, mà còn tạo lập trật tự, kỷ cương và duy trì môi trường kinh doanh công bằng trong nền kinh tế số, tránh tình trạng, người kinh doanh thông thường thì nộp thuế đầy đủ, còn kinh doanh qua mạng, nền tảng số lại trốn thuế.
Tất cả những vấn đề nêu trên càng nhấn mạnh nhu cầu hoàn thiện hệ thống quy phạm theo hướng đồng bộ, thống nhất, minh bạch, bao quát đầy đủ các đối tượng và nguồn thu, đặc biệt với các mô hình cung cấp hàng hóa, dịch vụ xuyên biên giới và các hình thức kinh doanh mới.
Qua đó cho thấy, quản lý thuế thương mại điện tử không còn là nhiệm vụ riêng lẻ của từng đơn vị, mà là một cấu phần quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa quản lý thuế và chuyển đổi số quốc gia.
Đồng bộ giải pháp chống thất thu thuế thương mại điện tử
Ngành Thuế đang đẩy mạnh xây dựng mô hình quản lý thuế hiện đại đối với hoạt động thương mại điện tử và kinh tế số, với các giải pháp không chỉ hướng tới nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thuế mà, bảo đảm công bằng nghĩa vụ thuế giữa các loại hình kinh doanh.
Theo Cục Thuế, giai đoạn 2026-2030, toàn ngành triển khai đồng bộ các nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT, bảo đảm phù hợp với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, sự phát triển của kinh tế số và yêu cầu hiện đại hóa quản lý thuế, tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT theo hướng đồng bộ, thống nhất, minh bạch, phù hợp với thực tiễn phát triển nhanh chóng của kinh tế số, các mô hình kinh doanh mới và hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ xuyên biên giới; bảo đảm bao quát đầy đủ các đối tượng, nguồn thu, hạn chế khoảng trống pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế.
Thứ hai, xây dựng danh sách người nộp thuế có hoạt động TMĐT trên phạm vi toàn ngành; thực hiện phân loại theo các nhóm chủ yếu như: sàn giao dịch TMĐT, kinh doanh qua mạng xã hội, cung cấp dịch vụ số/quảng cáo/tiếp thị/liên kết, tổ chức, cá nhân có hoạt động xuyên biên giới và các hình thức kinh doanh trong kinh tế số; Nhà cung cấp nước ngoài có hoạt động kinh doanh TMĐT, kinh doanh dựa trên nền tảng số.
Thứ ba, triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về thuế đối với hoạt động TMĐT theo hướng đa dạng, phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng mô hình kinh doanh trên nền tảng số theo từng tháng/quý. Đẩy mạnh hỗ trợ tổ chức, cá nhân kinh doanh TMĐT trong nước và xuyên biên giới thực hiện đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế theo quy định; nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ, kịp thời.
Thứ tư, phấn đấu số thu từ hoạt động TMĐT phù hợp tăng trưởng của thị trường TMĐT, góp phần mở rộng cơ sở thu, nâng cao tính bền vững của nguồn thu ngân sách nhà nước.
![]() |
| Siết quản lý thuế thương mại điện tử bằng thể chế và dữ liệu số |
Thứ năm, chuẩn hóa thông tin, dữ liệu phục vụ quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT; xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu tập trung, đồng bộ về người nộp thuế, giao dịch, doanh thu, dòng tiền và các thông tin có liên quan.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý thuế; tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, máy học (machine learning), dữ liệu lớn và phân tích rủi ro trong việc thu thập, xử lý, đối chiếu, phân tích cơ sở dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả nhận diện, giám sát và quản lý nghĩa vụ thuế đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động TMĐT.
Thứ sáu, phối hợp với các bộ, ngành; phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan Thuế với các ngành, địa phương, UBND các cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT như: tuyên truyền, xác minh thông tin, xử lý vi phạm, kiểm tra liên ngành...
Thứ bảy, triển khai kiểm tra, giám sát thường xuyên theo hướng quản lý rủi ro; hằng năm, mỗi địa bàn triển khai tối thiểu từ 01 đến 02 chuyên đề kiểm tra, giám sát đối với hoạt động TMĐT; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật thuế.
Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng, thực hiện chuyển hồ sơ các vụ việc có dấu hiệu vi phạm trong hoạt động kinh doanh TMĐT sang cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
Thứ tám, cơ quan thuế các cấp thực hiện kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí đầu mối chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT; nâng cao năng lực điều hành, quản lý theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với yêu cầu quản lý thuế trong nền kinh tế số.
Chủ động xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT hằng năm phù hợp với tình hình thực tiễn, bảo đảm nguyên tắc “6 rõ”: rõ việc, rõ người, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ kết quả, rõ thẩm quyền; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ
Thứ chín, phối hợp với các tổ chức quốc tế trong quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT, đặc biệt đối với các giao dịch xuyên biên giới, nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Chủ động trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tham gia các diễn đàn, sáng kiến quốc tế về quản lý thuế trong nền kinh tế số; nghiên cứu, tiếp cận và áp dụng các thông lệ tốt, chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế, chống thất thu và bảo đảm nguồn thu ngân sách trong lĩnh vực TMĐT.
Có thể thấy, quản lý thuế TMĐT không còn là bài toán riêng của ngành Thuế mà đã trở thành một yêu cầu tất yếu trong quá trình hiện đại hóa quản lý nhà nước và chuyển đổi số quốc gia. Việc đồng thời hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa dữ liệu, tăng cường phối hợp và siết kỷ luật thực thi sẽ là chìa khóa để xây dựng môi trường kinh doanh số minh bạch, công bằng và bền vững.