Thứ năm 29/10/2026 02:06
Thời tiết: Hà Nội 24°C
Đà Nẵng 24°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 26°C
TP Hồ Chí Minh 28°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Miễn ghi nhãn phụ: Mở ra “luồng xanh” cho hàng nhập khẩu

Thái Hằng (Thực hiện)
Việc miễn ghi nhãn phụ cho một số nhóm hàng nhập khẩu đang mở ra “luồng xanh” giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong sản xuất kinh doanh và logistics. Song song, các yêu cầu pháp lý và cơ chế hậu kiểm cũng được siết chặt, đặt ra áp lực tuân thủ cao hơn. Chia sẻ với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, chuyên gia xúc tiến thương mại Ngô Văn Chinh (Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số) cho rằng, trong bối cảnh chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, doanh nghiệp cần chủ động tuân thủ và chịu trách nhiệm cao hơn với hàng hóa của mình.
Miễn ghi nhãn phụ: Mở ra “luồng xanh” cho hàng nhập khẩu
Nhãn phụ là một trong những căn cứ để cơ quan Hải quan đối chiếu với chứng từ nhằm xác định mã HS và thuế suất. Ảnh minh họa.

Trong bối cảnh hoạt động quản lý nhãn hàng hóa có nhiều thay đổi, xin ông phân tích rõ hơn về ý nghĩa của quy định miễn ghi nhãn phụ đối với doanh nghiệp?

Miễn ghi nhãn phụ: “Luồng xanh” cho hàng nhập khẩu

Từ ngày 1/4/2026, ngành Hải quan áp dụng hệ thống mã đơn vị mới để phân loại doanh nghiệp theo mức độ tuân thủ. Những doanh nghiệp có lịch sử tốt có thể được tạo thuận lợi hơn. Tuy nhiên, với hàng hóa miễn nhãn phụ, cơ quan chức năng sẽ kiểm tra rất kỹ báo cáo quyết toán nguyên liệu. Nếu có chênh lệch bất thường giữa đầu vào và đầu ra, doanh nghiệp có thể bị nghi ngờ đưa hàng không nhãn mác ra thị trường.

Ngô Văn Chinh

Nhãn phụ, về bản chất pháp lý là phần thông tin bằng tiếng Việt được dịch từ nhãn gốc bằng tiếng nước ngoài và bổ sung những nội dung còn thiếu theo quy định. Đây là cầu nối giữa hàng hóa quốc tế và hệ thống quản lý trong nước.

Việc bắt buộc có nhãn phụ không phải là rào cản thương mại. Nó phục vụ nhiều mục tiêu cùng lúc.

Thứ nhất, bảo vệ quyền được thông tin của người tiêu dùng, họ cần hiểu rõ thành phần, công dụng, cảnh báo rủi ro bằng ngôn ngữ của mình.

Thứ hai, đây là công cụ định danh hàng hóa chính ngạch, giúp phân biệt với hàng lậu, hàng giả.

Thứ ba, nhãn phụ là căn cứ để cơ quan Hải quan đối chiếu với chứng từ nhằm xác định mã HS và thuế suất.

Cuối cùng, nó hỗ trợ kiểm tra chuyên ngành, đặc biệt với thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm.

Do vậy, việc miễn nhãn phụ chỉ được áp dụng trong những trường hợp đặc thù, khi hàng hóa không đi vào lưu thông bán lẻ hoặc không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng.

Hiện nay, công tác quản lý nhãn hàng hóa thực thi theo quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 23/1/2026.

Quy định này kế thừa nền tảng từ Nghị định số 43/2017/NĐ-CP và Nghị định số 111/2021/NĐ-CP nhưng được bổ sung nhiều yếu tố mới như nhãn điện tử và tiêu chuẩn kỹ thuật chặt chẽ hơn, ví dụ về kích thước chữ.

Đáng chú ý, hệ thống pháp lý về quản lý nhãn hàng hoá không còn là những quy định rời rạc mà đã hình thành một “hệ sinh thái đa tầng”. Điều này buộc doanh nghiệp phải tiếp cận tổng thể thay vì chỉ dựa vào một văn bản.

Điểm then chốt là sự chuyển dịch từ tiền kiểm sang hậu kiểm theo tinh thần của Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP. Cơ quan Hải quan giảm kiểm tra trực tiếp tại cửa khẩu nhưng tăng cường kiểm tra hồ sơ và thực tế tại kho.

Trong bối cảnh đó, việc miễn ghi nhãn phụ cho một số nhóm hàng hóa không chỉ là nới lỏng thủ tục, mà là cơ chế “trao quyền có điều kiện”, đòi hỏi doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm cao hơn.

Theo quy định hiện hành, có bao nhiêu nhóm hàng hóa nhập khẩu được miễn ghi nhãn phụ, thưa ông?

Theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và các văn bản liên quan, có 4 nhóm chính được miễn ghi nhãn phụ.

Thứ nhất là linh kiện, phụ kiện, phụ tùng nhập khẩu để bảo hành, sửa chữa. Đây thường là các chi tiết nhỏ như chip, tụ điện, hoặc phụ kiện có kích thước hạn chế, khó thể hiện đầy đủ nội dung nhãn. Việc miễn nhãn giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian xử lý, đặc biệt với các tập đoàn công nghệ cần nhập số lượng lớn để duy trì hệ thống hậu mãi.

Thứ hai là nguyên liệu, phụ liệu phục vụ sản xuất nội bộ. Nhóm này bao gồm nguyên liệu thô, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến… được đưa trực tiếp vào dây chuyền sản xuất. Do người sử dụng là kỹ sư, công nhân có chuyên môn, nên không cần nhãn phụ tiếng Việt trên từng đơn vị.

Thứ ba là hàng hóa tạm nhập tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu. Đây là hàng không tiêu thụ tại Việt Nam, chỉ trung chuyển hoặc phục vụ mục đích ngắn hạn như hội chợ, triển lãm. Việc miễn nhãn phụ giúp phù hợp với thông lệ logistics quốc tế, giảm chi phí không cần thiết.

Thứ tư là hành lý cá nhân, quà biếu tặng trong định mức miễn thuế. Đây là nhóm phi thương mại, phục vụ nhu cầu cá nhân. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh: nếu những hàng hóa này bị đưa vào kinh doanh, chúng bắt buộc phải có nhãn phụ đầy đủ.

Nhìn tổng thể, lợi thế của quy định miễn nhãn phụ là giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian thông quan và tăng tính linh hoạt trong chuỗi cung ứng.

Vậy, để được hưởng các cơ chế này, theo ông, doanh nghiệp cần đáp ứng những điều kiện gì?

Miễn nhãn phụ không phải là “tự động”. Doanh nghiệp phải chứng minh mục đích sử dụng thông qua hồ sơ đầy đủ.

Bộ hồ sơ thường bao gồm hợp đồng ngoại thương thể hiện mục đích nhập khẩu, bản cam kết nhập khẩu hàng hóa miễn nhãn phụ theo mẫu, tờ khai hải quan với mã loại hình phù hợp, danh mục hàng hóa, tài liệu kỹ thuật và cả giấy chứng nhận xuất xứ (C/O).

Điểm quan trọng là cơ chế hậu kiểm. Từ ngày 1/4/2026, ngành Hải quan áp dụng hệ thống mã đơn vị mới để phân loại doanh nghiệp theo mức độ tuân thủ. Những doanh nghiệp có lịch sử tốt có thể được tạo thuận lợi hơn.

Tuy nhiên, với hàng hóa miễn nhãn phụ, cơ quan chức năng sẽ kiểm tra rất kỹ báo cáo quyết toán nguyên liệu. Nếu có chênh lệch bất thường giữa đầu vào và đầu ra, doanh nghiệp có thể bị nghi ngờ đưa hàng không nhãn mác ra thị trường. Nói cách khác, điều kiện tiên quyết là tính minh bạch và nhất quán trong hồ sơ.

Nếu vi phạm quy định, doanh nghiệp sẽ chịu những chế tài và hệ quả pháp lý ra sao, thưa ông?

Rủi ro không hề nhỏ. Các vi phạm phổ biến bao gồm: không dán nhãn phụ với hàng nhập khẩu kinh doanh, nội dung nhãn sai lệch so với nhãn gốc, nhãn phụ che khuất thông tin bắt buộc, hoặc sử dụng nhãn điện tử nhưng không đảm bảo truy cập.

Mức xử phạt được phân theo giá trị hàng hóa. Ví dụ, với hàng trị giá từ 5 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng, mức phạt cho lỗi không ghi nhãn hoặc sai nội dung có thể từ 500 nghìn đồng đến 12 triệu đồng; còn nếu ghi sai sự thật, mức phạt từ 12 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Với hàng hóa trên 1 tỷ đồng, mức phạt có thể lên tới 100 triệu đồng.

Ngoài tiền phạt, doanh nghiệp còn có thể bị buộc thu hồi hàng hóa để dán nhãn lại, tiêu hủy nếu gây nguy hại, hoặc thậm chí bị đình chỉ hoạt động kinh doanh nếu tái phạm nghiêm trọng.

Điều đáng lưu ý là nhiều doanh nghiệp nhầm lẫn giữa hàng miễn nhãn phụ và hàng được phép lưu thông không nhãn. Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Nếu sử dụng sai mục đích, hệ quả pháp lý sẽ rất nặng.

Có thể thấy, quy định này tạo ra sự cân bằng giữa tạo thuận lợi thương mại và kiểm soát nhà nước. Việc miễn nhãn phụ cho 4 nhóm hàng hóa là một điểm sáng, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, tăng tốc sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, đây không phải là “ưu đãi vô điều kiện”. Quyền lợi luôn đi kèm trách nhiệm. Doanh nghiệp phải đảm bảo rằng hàng hóa miễn nhãn phụ không bị đưa ra thị trường sai mục đích, đồng thời duy trì hệ thống hồ sơ minh bạch để đáp ứng hậu kiểm.

Trong giai đoạn chuyển đổi này, việc hiểu đúng và tuân thủ đúng quy định sẽ là yếu tố quyết định để doanh nghiệp tận dụng được lợi thế mà chính sách mang lại.

Trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xuất khẩu sang ASEAN cần kiểm soát rủi ro để giữ lợi thế cạnh tranh

Xuất khẩu sang ASEAN cần kiểm soát rủi ro để giữ lợi thế cạnh tranh

ASEAN là thị trường gần gũi, giàu tiềm năng nhưng cũng đặt ra nhiều yêu cầu đối với doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình xuất khẩu. Từ thẩm định đối tác, đàm phán hợp đồng đến thanh toán, logistics và chứng nhận xuất xứ, nhận diện đúng rủi ro tại từng thị trường là điều kiện quan trọng để tận dụng ưu đãi thương mại, bảo vệ lợi ích và phát triển xuất khẩu bền vững.
Xuất khẩu lốp xe nâng giá trị ngành cao su Việt Nam

Xuất khẩu lốp xe nâng giá trị ngành cao su Việt Nam

Xuất khẩu lốp xe đang mở thêm cơ hội phát triển sản phẩm cao su chế biến, gia tăng giá trị từ hoạt động sản xuất công nghiệp. Để khai thác bền vững thị trường này, doanh nghiệp cần gắn đầu tư công nghệ, liên kết nguyên liệu với quản trị rủi ro phòng vệ thương mại.
Logistics xanh: Giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Logistics xanh: Giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Chuyển đổi xanh trong logistics cần gắn với tiết kiệm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu. Đồng bộ hạ tầng, công nghệ và dữ liệu là yêu cầu quan trọng để đưa logistics xanh trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Xuất khẩu giảm vẫn phải đề phòng rủi ro phòng vệ thương mại

Xuất khẩu giảm vẫn phải đề phòng rủi ro phòng vệ thương mại

Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam được lưu ý về nguy cơ điều tra phòng vệ thương mại ngay cả khi kim ngạch giảm, từ đó đặt ra yêu cầu doanh nghiệp theo dõi vị thế tại từng thị trường và chuẩn bị hồ sơ chứng minh hoạt động sản xuất, nguồn gốc nguyên liệu từ sớm.
Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cần chủ động kiểm soát rủi ro

Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cần chủ động kiểm soát rủi ro

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro với doanh nghiệp Việt Nam. Từ chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn hàng hóa đến thông quan, logistics và thanh toán, chủ động nhận diện, kiểm soát rủi ro giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu bền vững.
Xuất khẩu qua sàn quốc tế: Doanh nghiệp Việt cần vượt rào cản nào?

Xuất khẩu qua sàn quốc tế: Doanh nghiệp Việt cần vượt rào cản nào?

Xuất khẩu qua sàn quốc tế mở rộng cơ hội cho hàng Việt, nhưng rào cản pháp lý, logistics và năng lực vận hành vẫn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt trong cạnh tranh bền vững.
Doanh nghiệp chuẩn bị gì để tận dụng EVFTA mở rộng xuất khẩu?

Doanh nghiệp chuẩn bị gì để tận dụng EVFTA mở rộng xuất khẩu?

Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do (VEFTA) ngày 18/10/2026 được kỳ vọng mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản Việt Nam, không chỉ trong xuất khẩu sang các thị trường có thu nhập cao mà còn trong hợp tác về nguồn nguyên liệu, công nghệ chế biến và phát triển chuỗi cung ứng.
Xuất nhập khẩu có thể cán mốc 1.000 tỷ USD ngay trong tháng 10

Xuất nhập khẩu có thể cán mốc 1.000 tỷ USD ngay trong tháng 10

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 945,07 tỷ USD, chỉ còn cách mốc 1.000 tỷ USD khoảng 54,93 tỷ USD. Với quy mô giao thương hiện tại và xu hướng kim ngạch nửa cuối tháng thường cao hơn nửa đầu tháng, dấu mốc này có cơ sở để được xác lập ngay trong tháng 10 này.
Canada tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với ống thép dẫn dầu Việt Nam

Canada tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với ống thép dẫn dầu Việt Nam

Canada tiếp tục duy trì biện pháp chống bán phá giá đối với ống thép dẫn dầu có xuất xứ hoặc được xuất khẩu từ Việt Nam sau khi xác định việc chấm dứt lệnh có thể khiến lượng hàng bán phá giá gia tăng và gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước.
Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có thể đạt 200 tỷ USD trong năm 2026

Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có thể đạt 200 tỷ USD trong năm 2026

Trong 9 tháng năm 2026, thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 157,4 tỷ USD, tăng 24,5% (tương đương tăng gần 31 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Thương mại Việt Nam - Trung Quốc hướng tới mốc 300 tỷ USD

Thương mại Việt Nam - Trung Quốc hướng tới mốc 300 tỷ USD

Hết tháng 9/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc đạt 253,2 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đã xấp xỉ kim ngạch cả năm ngoái (năm 2025 đạt 256,4 tỷ USD) và là động lực để hướng tới mốc kim ngạch 300 tỷ USD trong năm nay.
Tận dụng ưu đãi CEPA, mở rộng xuất khẩu vào Trung Đông - châu Phi

Tận dụng ưu đãi CEPA, mở rộng xuất khẩu vào Trung Đông - châu Phi

CEPA chính thức có hiệu lực từ ngày 3/2/2026, với cam kết UAE xóa bỏ ngay 74,2% số dòng thuế và nâng lên 89,2% sau 5 năm. Đây là lợi thế cạnh tranh đáng kể nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc giữ và phát triển thị phần xuất khẩu.
Doanh nghiệp châu Âu đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên tăng trưởng mới

Doanh nghiệp châu Âu đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên tăng trưởng mới

Ngày 22/10, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) công bố sáng kiến Give Back to Vietnam (tạm dịch: Tri ân Việt Nam), nhằm kết nối nguồn lực và chuyên môn của doanh nghiệp châu Âu với nhu cầu thực tiễn, đồng thời phát huy tiềm năng của các cộng đồng tại Việt Nam.
Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 35,72 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ, song tăng trưởng giữa các nhóm hàng còn phân hóa. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao, đơn hàng chưa đồng đều và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, nâng năng suất, chủ động nguồn cung và cải thiện hiệu quả sản xuất là những điều kiện quan trọng để ngành dệt may duy trì đà tăng trưởng. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), phân tích sâu hơn về triển vọng cuối năm, nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Đến ngày 15/10/2026, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 481,37 tỷ USD, tăng 37,2% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực đến từ máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, cùng máy móc, thiết bị và nhiều nhóm nguyên liệu. Đà tăng này mở ra khả năng nhập khẩu cả năm vượt 600 tỷ USD, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giá trị gia tăng trong nước.