![]() |
| Kiểm tra hồ sơ thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh dựa trên quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ và ưu tiên công nghệ thông tin. Ảnh: Duy Hưng. |
Nhận diện chênh lệch doanh thu từ dữ liệu liên thông
Quy trình kiểm tra thuế được ban hành kèm Quyết định số 1161/QĐ-CT của Cục trưởng Cục Thuế xác lập nguyên tắc kiểm tra hồ sơ thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh dựa trên quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ và ưu tiên công nghệ thông tin.
Theo đó, bên cạnh việc bổ sung thêm nguồn thông tin, quy trình mới còn chuyển từ xem xét hồ sơ riêng lẻ sang đối chiếu cả chuỗi giao dịch, từ hóa đơn điện tử, dòng tiền qua ngân hàng đến dữ liệu vận chuyển, qua đó phần doanh thu chưa phản ánh đầy đủ trong kê khai sẽ dễ được nhận diện hơn.
Hồ sơ thuế được rà soát từ xa trên cơ sở dữ liệu điện tử. Thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, cơ quan Thuế đánh giá mức độ rủi ro, lựa chọn những hồ sơ cần làm rõ và kiểm tra tính đầy đủ, chính xác, phù hợp của thông tin do người nộp thuế kê khai.
Việc xác định danh sách người nộp thuế có hồ sơ thuế rủi ro cao, người nộp thuế có rủi ro cao trong quản lý và sử dụng hóa đơn cần kiểm tra tại trụ sở cơ quan Thuế được tuân theo quy định tại Quy trình áp dụng quản lý rủi ro trong lựa chọn hồ sơ khai thuế ban hành kèm Quyết định số 98/QĐ-TCT của Tổng Cục Thuế (nay là Cục Thuế). Sau khi danh sách được phê duyệt, cơ quan Thuế thực hiện trình tự kiểm tra theo quy định.
Ngoài hồ sơ khai thuế và hóa đơn điện tử, cơ quan Thuế có thể sử dụng thông tin được chia sẻ hợp pháp từ ngân hàng, trung gian thanh toán, đơn vị vận chuyển, cơ quan thanh tra, kiểm toán, công an và bên thứ ba khác, từ đó dữ liệu được đối chiếu với doanh thu và thông tin trên hệ thống thuế để phát hiện chênh lệch.
Thực tế hoạt động kinh doanh trên sàn thương mại điện tử cho thấy, khối lượng dữ liệu cần quản lý có thể rất lớn. Trường hợp của chị Hoàng Thu Thủy, chủ hộ kinh doanh nguyên liệu làm bánh và pha chế đồ uống tại Hà Nội là một điển hình về yêu cầu quản lý thuế dựa trên dữ liệu.
Hộ kinh doanh của chị Thủy chủ yếu hoạt động trên sàn thương mại điện tử với doanh thu khoảng 6 tỷ đồng/năm. Mỗi ngày cơ sở kinh doanh của chị Thủy phát sinh khoảng 100 - 200 đơn hàng và bình quân mỗi tháng xuất 3.000 - 4.000 hóa đơn. Việc chủ động đối chiếu số liệu đơn hàng, hóa đơn và thanh toán giúp hộ kinh doanh hình thành chuỗi dữ liệu nhất quán, sẵn sàng chứng minh doanh thu kê khai khi cơ quan Thuế yêu cầu.
Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu kê khai chưa đến ngưỡng phải nộp thuế, hóa đơn điện tử, thông tin từ bên thứ ba hoặc số lượng hàng hóa, dịch vụ mua vào lớn có thể là căn cứ để xác định dấu hiệu doanh thu thực tế đã vượt ngưỡng chịu thuế.
Tuy nhiên, việc xuất hiện cảnh báo rủi ro không đồng nghĩa với việc người nộp thuế mặc nhiên có vi phạm. Nếu quá trình rà soát không phát hiện sai sót trong kê khai, kết quả sẽ được ghi nhận và lưu hồ sơ, trường hợp có thông tin đáng tin cậy cho thấy mức độ rủi ro đã giảm xuống thấp, hồ sơ có thể được đề xuất đưa ra khỏi danh sách kiểm tra.
![]() |
| Đơn giản hóa thủ tục để hộ kinh doanh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế. Ảnh: Duy Hưng. |
Ưu tiên giải trình trước khi kiểm tra tại nơi kinh doanh
Theo Cục Thuế, người nộp thuế có cơ hội giải trình hoặc khai bổ sung sau 2 lần thông báo trước khi xem xét kiểm tra tại nơi kinh doanh, giúp tạo khoảng đệm để sửa sai, làm rõ sự khác biệt và hạn chế những cuộc kiểm tra trực tiếp chưa cần thiết. Quy định này cũng cho thấy sự cân bằng được thiết lập giữa chống thất thu và bảo vệ người nộp thuế tuân thủ.
Theo đó, khi hồ sơ có dấu hiệu khai sai, cơ quan Thuế thông báo lần thứ nhất yêu cầu giải trình trong không quá 10 ngày làm việc, nếu tài liệu chứng minh số thuế đã khai là đúng hoặc hộ kinh doanh khai bổ sung đúng hạn thì hồ sơ được chấp nhận.
Nếu thông tin chưa đủ hoặc người nộp thuế không phản hồi, thông báo lần hai có thể được ban hành trong 5 ngày làm việc; thời hạn giải trình tiếp theo không quá 10 ngày. Người nộp thuế có thể giải trình trực tiếp, trực tuyến, điện tử hoặc qua bưu điện, trong trường hợp bất khả kháng được đề nghị hoãn giải trình.
Sau hai lần thông báo, nếu người nộp thuế không giải trình, không cung cấp tài liệu, không khai bổ sung hoặc không chứng minh được số thuế đã khai là đúng, cơ quan Thuế xem xét ấn định thuế khi đã đủ căn cứ. Nếu chưa đủ căn cứ xác định số thuế phải nộp, hồ sơ được chuyển cho bộ phận kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế hoặc làm cơ sở lập kế hoạch kiểm tra theo nguyên tắc rủi ro.
Để tránh các rủi ro không đáng có, hộ kinh doanh cần hình thành thói quen quản lý dữ liệu như lưu chứng từ đầu vào, hóa đơn bán ra, báo cáo nền tảng, chứng từ thanh toán và tách giao dịch cá nhân khỏi giao dịch kinh doanh để kịp thời giải trình chênh lệch.
Từ kinh nghiệm bán hàng trong nhiều năm qua, chị Thủy cho rằng thủ tục kê khai cần được thiết kế đơn giản, phù hợp, nhất là với hộ không có chuyên môn kế toán; đồng thời, việc quản lý hóa đơn đầu vào cần được thực hiện đồng bộ để người kinh doanh tuân thủ có đủ chứng từ hợp lệ.
Theo chị Thủy, việc đơn giản hóa phương thức kê khai theo doanh thu, phù hợp với quy mô kinh doanh, có thể giúp giảm chi phí thuê dịch vụ kế toán, qua đó tạo điều kiện để hộ tập trung nguồn lực cho hoạt động kinh doanh mà vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế.
Quản lý trên dữ liệu liên thông có thể thu hẹp khoảng trống doanh thu, nhưng hiệu quả không chỉ nằm ở khả năng phát hiện chênh lệch. Yêu cầu quan trọng hơn là thông báo rủi ro phải cụ thể, dữ liệu phải kiểm chứng được và hộ kinh doanh có kênh giải trình thuận tiện, khi đó kiểm tra thuế vừa hỗ trợ đưa hoạt động kinh doanh vào nền nếp, vừa tránh tạo áp lực không cần thiết đối với người tuân thủ.