Thứ sáu 25/09/2026 15:57
Thời tiết: Hà Nội 34°C
Đà Nẵng 28°C
Cà Mau 27°C
Hải Phòng 31°C
TP Hồ Chí Minh 27°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách
aa

Hàng xuất khẩu quay vào nội địa, thuế tiêu thụ đặc biệt tính thế nào?

Ngô Kiến
Theo chuyên gia, khi hàng hóa đã được mua hoặc nhận ủy thác để xuất khẩu nhưng không thực tế ra nước ngoài mà chuyển về tiêu thụ trong nước, điểm đến của hàng hóa trở thành căn cứ quan trọng để xác định nghĩa vụ thuế. Điều này được quy định cụ thể tại Thông tư số 136/2026/TT-BTC, hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt khi tiêu thụ trong nước phải kê khai, nộp thuế.
Hàng xuất khẩu quay vào nội địa, thuế tiêu thụ đặc biệt tính thế nào?
Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI.

Hàng thực tế đi đâu, thuế tiêu đặc biệt tính theo đó

Tám tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa đạt 374,84 tỷ USD, nhập khẩu 395,3 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên 770,14 tỷ USD. Trong dòng hàng lớn, không ít trường hợp hàng được chuẩn bị để xuất khẩu nhưng sau đó thay đổi phương án tiêu thụ.

Hàng xuất khẩu quay vào nội địa, thuế tiêu thụ đặc biệt tính thế nào?

Với doanh nghiệp có nhiều giao dịch cùng lúc, việc phân định hàng đã hoàn tất xuất khẩu, hàng đang làm thủ tục và hàng đã chuyển hướng tiêu thụ nội địa có ý nghĩa trực tiếp đối với việc lập hồ sơ thuế.

Luật sư Bùi Văn Đức

Với hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, khi không xuất khẩu mà bán trong nước, nghĩa vụ thuế được xác định theo trạng thái thực tế của hàng hóa, không chỉ căn cứ vào mục đích ban đầu của hợp đồng.

Theo Thông tư số 136/2026/TT-BTC ngày 14/9/2026 của Bộ Tài chính, hàng hóa tổ chức, cá nhân xuất khẩu mua hoặc nhận ủy thác xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt khi hàng hóa được bán, tiêu thụ tại Việt Nam.

Theo TS. Võ Thy Trang (Khoa Kinh tế, Học viện Tài chính), điểm cốt lõi là phải xác định đúng dòng đi thực tế của hàng hóa. “Một hợp đồng xuất khẩu không đồng nghĩa toàn bộ hàng hóa trong hợp đồng đã được xuất khẩu. Với từng lô hàng, doanh nghiệp cần chứng minh được quá trình từ giao dịch, giao nhận, thanh toán đến thủ tục hải quan và kết quả tiêu thụ cuối cùng”, bà Trang nói.

Yêu cầu hồ sơ theo Thông tư số 136/2026/TT-BTC gồm: hợp đồng mua bán hàng hóa để xuất khẩu hoặc hợp đồng ủy thác xuất khẩu; hóa đơn bán hàng, giao hàng ủy thác xuất khẩu. Nếu hợp đồng được thanh lý toàn bộ hoặc từng phần, phải có biên bản thanh lý tương ứng.

Đáng chú ý, biên bản thanh lý phải thể hiện thông tin về hàng đã thực tế xuất khẩu, giá bán, hình thức và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, cùng số, ngày hợp đồng xuất khẩu và tờ khai hải quan.

“Chứng minh xuất khẩu không thể chỉ bằng một hợp đồng”, nhấn mạnh điều này, TS. Võ Thy Trang cho rằng, hồ sơ cần được nhìn như một chuỗi dấu vết của từng lô hàng; hợp đồng thể hiện giao dịch, hóa đơn và chứng từ giao nhận phản ánh quá trình thực hiện, chứng từ thanh toán thể hiện dòng tiền, còn tờ khai hải quan xác nhận thủ tục xuất khẩu.

Yêu cầu này càng rõ hơn trong xuất khẩu ủy thác, khi một lô hàng liên quan đến nhiều chủ thể. Nếu thông tin giữa hợp đồng, chứng từ giao nhận, thanh toán và hải quan không thống nhất, việc xác định hàng đã thực tế xuất khẩu hay đã chuyển sang tiêu thụ trong nước sẽ phức tạp hơn.

Vì vậy, với hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, doanh nghiệp cần quản lý đến trạng thái cuối cùng của từng lô hàng. Không xuất khẩu thực tế mà chuyển sang bán trong nước thì phương án thuế cũng phải được xác định lại theo giao dịch phát sinh.

Doanh nghiệp cần quản lý theo từng lô hàng

Trong thực tế kinh doanh, phương án xuất khẩu có thể thay đổi khi khách hàng điều chỉnh nhu cầu, hợp đồng không tiếp tục hoặc doanh nghiệp chuyển hướng tiêu thụ. Với hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, mỗi thay đổi về đầu ra phải được cập nhật kịp thời vào hồ sơ và nghĩa vụ thuế theo trạng thái thực tế của hàng hóa.

ThS. Luật sư Bùi Văn Đức, Phó Giám đốc Công ty Luật TNHH Chân Thiện Mỹ thuộc Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh, cho rằng doanh nghiệp không nên chờ đến cuối kỳ mới rà soát. Ngay khi phương án tiêu thụ thay đổi, cần xác định rõ lô nào đã xuất khẩu, lô nào đang làm thủ tục và lô nào chuyển sang bán trong nước.

Theo quy định, hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được tổ chức, cá nhân xuất khẩu mua hoặc nhận ủy thác để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì phát sinh nghĩa vụ kê khai, nộp thuế khi hàng được bán, tiêu thụ tại Việt Nam.

Vì vậy, quản lý theo từng lô hàng có ý nghĩa trực tiếp trong xác định nghĩa vụ thuế. “Với doanh nghiệp có nhiều giao dịch cùng lúc, việc phân định hàng đã hoàn tất xuất khẩu, hàng đang làm thủ tục và hàng đã chuyển hướng tiêu thụ nội địa có ý nghĩa trực tiếp đối với việc lập hồ sơ thuế”, Luật sư Bùi Văn Đức nhấn mạnh.

TS. Võ Thy Trang cũng khuyến nghị, mỗi lô hàng nên có một bộ hồ sơ xuyên suốt, từ khi ký hợp đồng đến khi hàng thực tế xuất khẩu hoặc chuyển sang tiêu thụ trong nước. Các chứng từ về hợp đồng, mua bán, hóa đơn, thanh toán và tờ khai hải quan cần được kết nối, đối chiếu thống nhất.

Yêu cầu này càng quan trọng với hàng xuất khẩu ủy thác. Nếu hàng không xuất khẩu được, hồ sơ phải thể hiện rõ việc thay đổi phương án tiêu thụ; chứng từ bán hàng trong nước và hồ sơ thuế cũng phải thống nhất với giao dịch thực tế.

Trong khi đó, các chứng từ thường được quản lý bởi nhiều bộ phận: kinh doanh lưu hợp đồng, kế toán theo dõi thanh toán, còn xuất nhập khẩu quản lý tờ khai hải quan. Nếu thiếu cơ chế đối chiếu, thông tin về một lô hàng dễ bị phân tán, làm tăng rủi ro sai lệch hồ sơ và xác định không đúng thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế.

Thị trường nội địa cũng đang mở rộng. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tám tháng năm 2026 đạt khoảng 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025; nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 7,6%.

Trong bối cảnh tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tám tháng đạt 770,14 tỷ USD, dòng hàng ngày càng lớn và phức tạp. Với hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, doanh nghiệp vì thế cần quản lý đến trạng thái cuối cùng của từng lô hàng, thay vì chỉ căn cứ vào hợp đồng hoặc kế hoạch xuất khẩu.

“Điểm cốt lõi là phân định rõ hàng đã thực tế xuất khẩu và hàng chuyển sang tiêu thụ trong nước. Đây là cơ sở để doanh nghiệp xác định đúng thời điểm phát sinh nghĩa vụ, chủ thể kê khai và bộ hồ sơ thuế tương ứng”, TS. Võ Thy Trang nhấn mạnh.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Dự án đầu tư được hoàn thuế GTGT nếu đáp ứng đủ điều kiện

Dự án đầu tư được hoàn thuế GTGT nếu đáp ứng đủ điều kiện

Theo Cục Thuế, trường hợp tại thời điểm nộp hồ sơ, cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư, có số thuế GTGT đầu vào đáp ứng đầy đủ điều kiện khấu trừ, hoàn thuế và có hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo quy định thì được xem xét giải quyết hoàn thuế.
Gỗ sơ chế thông thường không chịu thuế GTGT ở khâu sản xuất và nhập khẩu

Gỗ sơ chế thông thường không chịu thuế GTGT ở khâu sản xuất và nhập khẩu

Theo hướng dẫn của Cục Thuế, gỗ tròn, thanh gỗ đã qua các công đoạn cưa, xẻ theo quy cách nhưng chưa qua bào trơn, ngâm tẩm hóa chất bảo quản và sấy được xác định là sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường, thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) ở khâu sản xuất bán ra và khâu nhập khẩu.
Thương hiệu mạnh giúp doanh nghiệp gia tăng giá trị xuất khẩu

Thương hiệu mạnh giúp doanh nghiệp gia tăng giá trị xuất khẩu

Tám tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 374,84 tỷ USD, trong đó hàng công nghiệp chế biến chiếm 90,2%. Khi hàng Việt ngày càng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, bài toán không chỉ là xuất khẩu được bao nhiêu, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp giữ lại được bao nhiêu giá trị. Ở đó, thương hiệu là mắt xích nối công nghệ, chất lượng, sở hữu trí tuệ với niềm tin và khả năng định giá.
Xác định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với lãi tiền gửi, tiền bồi thường

Xác định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với lãi tiền gửi, tiền bồi thường

Theo Cục Thuế, việc xác định khoản lãi tiền gửi có kỳ hạn và tiền bồi thường hiệu suất tuabin có thuộc phạm vi thu nhập được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cần căn cứ quy định pháp luật, hồ sơ quyết toán thuế và mối liên hệ thực tế với hoạt động của dự án.
Doanh nghiệp chế xuất tái xuất nguyên liệu chưa sử dụng thế nào?

Doanh nghiệp chế xuất tái xuất nguyên liệu chưa sử dụng thế nào?

Trường hợp doanh nghiệp chế xuất tái xuất nguyên liệu, vật tư nhập khẩu chưa sử dụng do thay đổi kế hoạch sản xuất thì thực hiện thủ tục xuất khẩu theo quy định, không phải đăng ký tờ khai thay đổi mục đích sử dụng.
Đưa chính sách thuế xuất nhập khẩu về đúng dòng chảy hàng hóa

Đưa chính sách thuế xuất nhập khẩu về đúng dòng chảy hàng hóa

Từ nguyên liệu mua trong nước, hàng hóa nhập khẩu tại chỗ đến sản phẩm thực tế xuất khẩu, các ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 134/2016/NĐ-CP đang tập trung làm rõ yêu cầu: Chính sách thuế phải phản ánh đúng nguồn gốc, quá trình sử dụng và kết quả thực tế của hàng hóa.
Dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp chế xuất khi nào được áp dụng thuế GTGT 0%?

Dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp chế xuất khi nào được áp dụng thuế GTGT 0%?

Dịch vụ cung cấp trực tiếp cho doanh nghiệp chế xuất, được tiêu dùng trong khu phi thuế quan và phục vụ hoạt động sản xuất xuất khẩu có thể được áp dụng thuế giá trị gia tăng 0% nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Tuy nhiên, một số dịch vụ như cho thuê nhà, văn phòng, kho bãi và đưa đón người lao động không thuộc diện áp dụng mức thuế suất này.
N2O làm phụ gia thực phẩm thuộc mã HS nào?

N2O làm phụ gia thực phẩm thuộc mã HS nào?

Đây là nội dung Công ty TNHH thương mại dịch vụ B&B supplier đề nghị Cục Hải quan hướng dẫn khi chuẩn bị nhập khẩu mặt hàng Nitrous Oxide (N2O) dạng viên nén 8g làm phụ gia thực phẩm.
Xuất khẩu có thuế GTGT đầu vào từ 300 triệu đồng được xem xét hoàn thuế

Xuất khẩu có thuế GTGT đầu vào từ 300 triệu đồng được xem xét hoàn thuế

Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được xem xét hoàn thuế theo tháng, quý, với điều kiện đáp ứng các quy định về khấu trừ, hoàn thuế GTGT.
Túi vô trùng nhập khẩu phải kiểm tra an toàn thực phẩm

Túi vô trùng nhập khẩu phải kiểm tra an toàn thực phẩm

Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế ) xác định, túi vô trùng dùng đựng thực phẩm thuộc danh mục phải kiểm tra và không thuộc diện miễn thì phải thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm khi nhập khẩu.
Quản lý khu phi thuế quan từ dữ liệu và bản chất hàng hóa

Quản lý khu phi thuế quan từ dữ liệu và bản chất hàng hóa

Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 134/2016/NĐ-CP đang đặt yêu cầu rõ hơn đối với điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan tại khu phi thuế quan, đồng thời các ý kiến góp ý đề nghị việc xử lý thuế phải căn cứ vào khả năng quản lý thực tế và dòng vận động của hàng hóa.
Ranh giới giữa sửa chữa và hoạt động chế xuất

Ranh giới giữa sửa chữa và hoạt động chế xuất

Vướng mắc của Compal liên quan đến việc xác định hoạt động sửa chữa hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có thuộc phạm vi hoạt động chế xuất. Bộ Tài chính cho rằng việc xác định phải căn cứ nội dung, tính chất hoạt động và các quy định pháp luật liên quan.
Hải quan lấy ý kiến quy định mới về thủ tục, kiểm tra, giám sát và kiểm soát hải quan

Hải quan lấy ý kiến quy định mới về thủ tục, kiểm tra, giám sát và kiểm soát hải quan

Cục Hải quan đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định và Thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Hải quan, với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung về thủ tục, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, quản lý rủi ro và chuyển đổi số.
Tách rõ từng thông tin trong khai báo phương tiện, hành khách và hàng hóa

Tách rõ từng thông tin trong khai báo phương tiện, hành khách và hàng hóa

Thông tư số 127/2026/TT-BTC quy định cụ thể các trường thông tin khai báo theo từng loại hình vận tải, từ người điều khiển, nhận dạng phương tiện, chủ phương tiện đến hành khách, vận đơn, hàng hóa và container, tạo cơ sở thống nhất dữ liệu khai báo trên hệ thống.
Dự thảo Luật ATTP (sửa đổi): Tăng nhận diện và mở rộng kiểm soát thực phẩm giả

Dự thảo Luật ATTP (sửa đổi): Tăng nhận diện và mở rộng kiểm soát thực phẩm giả

Từ kiểm soát từng sản phẩm sang quản lý rủi ro trong suốt chuỗi cung ứng, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (ATTP) sửa đổi đặt ra yêu cầu cao hơn đối với dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và năng lực thu hồi. Trọng tâm không nằm ở việc có thêm một mã để quét, mà ở khả năng nhận diện đúng đối tượng, ghi nhận đúng sự kiện và sử dụng dữ liệu để hành động khi có nguy cơ.