![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Hàng thực tế đi đâu, thuế tiêu đặc biệt tính theo đó
Tám tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa đạt 374,84 tỷ USD, nhập khẩu 395,3 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên 770,14 tỷ USD. Trong dòng hàng lớn, không ít trường hợp hàng được chuẩn bị để xuất khẩu nhưng sau đó thay đổi phương án tiêu thụ.
|
Với hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, khi không xuất khẩu mà bán trong nước, nghĩa vụ thuế được xác định theo trạng thái thực tế của hàng hóa, không chỉ căn cứ vào mục đích ban đầu của hợp đồng.
Theo Thông tư số 136/2026/TT-BTC ngày 14/9/2026 của Bộ Tài chính, hàng hóa tổ chức, cá nhân xuất khẩu mua hoặc nhận ủy thác xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt khi hàng hóa được bán, tiêu thụ tại Việt Nam.
Theo TS. Võ Thy Trang (Khoa Kinh tế, Học viện Tài chính), điểm cốt lõi là phải xác định đúng dòng đi thực tế của hàng hóa. “Một hợp đồng xuất khẩu không đồng nghĩa toàn bộ hàng hóa trong hợp đồng đã được xuất khẩu. Với từng lô hàng, doanh nghiệp cần chứng minh được quá trình từ giao dịch, giao nhận, thanh toán đến thủ tục hải quan và kết quả tiêu thụ cuối cùng”, bà Trang nói.
Yêu cầu hồ sơ theo Thông tư số 136/2026/TT-BTC gồm: hợp đồng mua bán hàng hóa để xuất khẩu hoặc hợp đồng ủy thác xuất khẩu; hóa đơn bán hàng, giao hàng ủy thác xuất khẩu. Nếu hợp đồng được thanh lý toàn bộ hoặc từng phần, phải có biên bản thanh lý tương ứng.
Đáng chú ý, biên bản thanh lý phải thể hiện thông tin về hàng đã thực tế xuất khẩu, giá bán, hình thức và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, cùng số, ngày hợp đồng xuất khẩu và tờ khai hải quan.
“Chứng minh xuất khẩu không thể chỉ bằng một hợp đồng”, nhấn mạnh điều này, TS. Võ Thy Trang cho rằng, hồ sơ cần được nhìn như một chuỗi dấu vết của từng lô hàng; hợp đồng thể hiện giao dịch, hóa đơn và chứng từ giao nhận phản ánh quá trình thực hiện, chứng từ thanh toán thể hiện dòng tiền, còn tờ khai hải quan xác nhận thủ tục xuất khẩu.
Yêu cầu này càng rõ hơn trong xuất khẩu ủy thác, khi một lô hàng liên quan đến nhiều chủ thể. Nếu thông tin giữa hợp đồng, chứng từ giao nhận, thanh toán và hải quan không thống nhất, việc xác định hàng đã thực tế xuất khẩu hay đã chuyển sang tiêu thụ trong nước sẽ phức tạp hơn.
Vì vậy, với hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, doanh nghiệp cần quản lý đến trạng thái cuối cùng của từng lô hàng. Không xuất khẩu thực tế mà chuyển sang bán trong nước thì phương án thuế cũng phải được xác định lại theo giao dịch phát sinh.
Doanh nghiệp cần quản lý theo từng lô hàng
Trong thực tế kinh doanh, phương án xuất khẩu có thể thay đổi khi khách hàng điều chỉnh nhu cầu, hợp đồng không tiếp tục hoặc doanh nghiệp chuyển hướng tiêu thụ. Với hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, mỗi thay đổi về đầu ra phải được cập nhật kịp thời vào hồ sơ và nghĩa vụ thuế theo trạng thái thực tế của hàng hóa.
ThS. Luật sư Bùi Văn Đức, Phó Giám đốc Công ty Luật TNHH Chân Thiện Mỹ thuộc Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh, cho rằng doanh nghiệp không nên chờ đến cuối kỳ mới rà soát. Ngay khi phương án tiêu thụ thay đổi, cần xác định rõ lô nào đã xuất khẩu, lô nào đang làm thủ tục và lô nào chuyển sang bán trong nước.
Theo quy định, hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được tổ chức, cá nhân xuất khẩu mua hoặc nhận ủy thác để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì phát sinh nghĩa vụ kê khai, nộp thuế khi hàng được bán, tiêu thụ tại Việt Nam.
Vì vậy, quản lý theo từng lô hàng có ý nghĩa trực tiếp trong xác định nghĩa vụ thuế. “Với doanh nghiệp có nhiều giao dịch cùng lúc, việc phân định hàng đã hoàn tất xuất khẩu, hàng đang làm thủ tục và hàng đã chuyển hướng tiêu thụ nội địa có ý nghĩa trực tiếp đối với việc lập hồ sơ thuế”, Luật sư Bùi Văn Đức nhấn mạnh.
TS. Võ Thy Trang cũng khuyến nghị, mỗi lô hàng nên có một bộ hồ sơ xuyên suốt, từ khi ký hợp đồng đến khi hàng thực tế xuất khẩu hoặc chuyển sang tiêu thụ trong nước. Các chứng từ về hợp đồng, mua bán, hóa đơn, thanh toán và tờ khai hải quan cần được kết nối, đối chiếu thống nhất.
Yêu cầu này càng quan trọng với hàng xuất khẩu ủy thác. Nếu hàng không xuất khẩu được, hồ sơ phải thể hiện rõ việc thay đổi phương án tiêu thụ; chứng từ bán hàng trong nước và hồ sơ thuế cũng phải thống nhất với giao dịch thực tế.
Trong khi đó, các chứng từ thường được quản lý bởi nhiều bộ phận: kinh doanh lưu hợp đồng, kế toán theo dõi thanh toán, còn xuất nhập khẩu quản lý tờ khai hải quan. Nếu thiếu cơ chế đối chiếu, thông tin về một lô hàng dễ bị phân tán, làm tăng rủi ro sai lệch hồ sơ và xác định không đúng thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế.
Thị trường nội địa cũng đang mở rộng. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tám tháng năm 2026 đạt khoảng 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025; nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 7,6%.
Trong bối cảnh tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tám tháng đạt 770,14 tỷ USD, dòng hàng ngày càng lớn và phức tạp. Với hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, doanh nghiệp vì thế cần quản lý đến trạng thái cuối cùng của từng lô hàng, thay vì chỉ căn cứ vào hợp đồng hoặc kế hoạch xuất khẩu.
“Điểm cốt lõi là phân định rõ hàng đã thực tế xuất khẩu và hàng chuyển sang tiêu thụ trong nước. Đây là cơ sở để doanh nghiệp xác định đúng thời điểm phát sinh nghĩa vụ, chủ thể kê khai và bộ hồ sơ thuế tương ứng”, TS. Võ Thy Trang nhấn mạnh.