![]() |
| Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại phát biểu khai mạc Hội nghị. Ảnh: Trọng Nghĩa. |
Dư địa lớn, yêu cầu cao
Ngày 23/9, tại Hà Nội, Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công Thương) chủ trì tổ chức hội nghị Giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tháng 9/2026, với chủ đề “Halal Việt Nam: Nhận diện năng lực cung ứng, nhu cầu thị trường và cơ chế phối hợp thúc đẩy xuất khẩu”.
Phát biểu khai mạc, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại cho biết, đây là lần thứ hai Bộ Công Thương tổ chức phiên giao ban chuyên đề về Halal. Theo ông Phú, thế giới hiện có khoảng 2 tỷ người Hồi giáo tại 112 quốc gia, trong đó 57 quốc gia là thành viên Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC), chiếm khoảng 25% dân số thế giới. Quy mô thị trường Halal toàn cầu đạt hàng nghìn tỷ USD; tiêu chuẩn Halal đang mở rộng từ thực phẩm sang mỹ phẩm, tài chính và logistics.
Ông Vũ Bá Phú nhấn mạnh, xu hướng sử dụng sản phẩm đạt chuẩn Halal ngày càng lan rộng ngoài cộng đồng Hồi giáo, gắn với yêu cầu cao về minh bạch và an toàn thực phẩm toàn chuỗi. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động, ngành công nghiệp Halal được xác định là động lực mới thúc đẩy xuất khẩu, đồng thời góp phần vào tiêu dùng nội địa.
Từ góc độ chuỗi cung ứng, ông Lê Anh Ngọc, Trưởng phòng Chất lượng và Đánh giá sự phù hợp, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, thị trường thực phẩm Halal toàn cầu được dự báo đạt khoảng 4.115,87 tỷ USD vào năm 2030, tăng trưởng bình quân 7,7%/năm giai đoạn 2023-2030.
Ông Lê Anh Ngọc nêu quan điểm “phát triển theo nhu cầu thị trường”, “lấy chất lượng và an toàn thực phẩm làm nền tảng”, đồng thời “lấy doanh nghiệp làm trung tâm”. Theo đó, doanh nghiệp phải xác định thị trường mục tiêu, yêu cầu người tiêu dùng và quy định nước nhập khẩu; kiểm soát từ nguyên liệu, chế biến đến truy xuất nguồn gốc, trong khi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo bằng thể chế, chính sách, tiêu chuẩn và thông tin thị trường.
Việt Nam có lợi thế khi gần các thị trường tiêu thụ Halal lớn. Theo thống kê, khoảng 62% dân số Hồi giáo tập trung tại châu Á; tại Đông Nam Á, tín đồ Hồi giáo chiếm khoảng 42% dân số, chủ yếu ở Brunei, Indonesia và Malaysia. Việt Nam có nhiều mặt hàng xuất khẩu hàng đầu như: gạo, cà phê, điều, hồ tiêu, tôm, cá; đồng thời có các nền tảng VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, HACCP, ISO và gần 1.000 doanh nghiệp được chứng nhận Halal.
![]() |
| Các đại biểu, đại diện doanh nghiệp tham dự và đóng góp ý kiến tại Hội nghị. Ảnh: Trọng Nghĩa. |
Bên cạnh đó, khung chính sách cũng đang được củng cố. Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030” được ban hành theo Quyết định số 10/QĐ-TTg ngày 14/2/2023 của Thủ tướng Chính phủ. Nghị định số 127/2026/NĐ-CP tiếp tục thiết lập khung pháp lý quốc gia, quản lý chất lượng toàn chuỗi từ nguyên liệu, sản xuất, chế biến, đóng gói đến vận chuyển, bảo quản và lưu thông. Việt Nam đã có các TCVN về thực phẩm Halal và tổ chức chứng nhận.
Từ Indonesia nhìn ra thị trường
Theo ông Phạm Thế Cường, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Indonesia, Indonesia có dân số lớn thứ tư thế giới, tầng lớp trung lưu khoảng 47 triệu người và giá trị tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ Halal đạt 330,5 tỷ USD năm 2025. Bên cạnh đó, Indonesia nhập khẩu hơn 1,2 tỷ USD sản phẩm sữa mỗi năm, khoảng 80% sản phẩm sữa được nhập khẩu. Những con số này cho thấy, dư địa tiếp cận thị trường này còn đáng kể đối với các nhóm hàng Việt Nam có lợi thế.
Ông Phạm Thế Cường cho hay, người tiêu dùng Indonesia đặc biệt coi trọng Halal, yếu tố Halal được lựa chọn với tỷ lệ 96,8%, còn yếu tố sạch là 96,2%. Người tiêu dùng quan tâm nguồn gốc, thành phần, chất lượng, hương vị, độ sạch và an toàn, đồng thời chú trọng thương hiệu đáng tin cậy.
Theo đó, ông Cường khuyến nghị, doanh nghiệp cần “hiểu biết về văn hóa Indonesia, phương thức kinh doanh và sở thích của người tiêu dùng”; xây dựng quan hệ lâu dài với đối tác địa phương; chủ động tìm hiểu quy định Halal; rà soát logo và nhãn hàng, kê khai chính xác thành phần; chuẩn bị chứng từ và bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc. Đặc biệt, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động xin chứng nhận Halal Indonesia trước khi tiếp cận nhà nhập khẩu.
Từ phía doanh nghiệp, bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HalalViet cho biết, xuất khẩu Halal của Việt Nam hiện khoảng 900 triệu USD mỗi năm, chủ yếu là nông thủy sản thô, thị phần toàn cầu dưới 1%. Số doanh nghiệp đạt chứng nhận tăng từ khoảng 500 giai đoạn 2021-2023 lên khoảng 1.000-1.300 doanh nghiệp giai đoạn 2024-2026, nhưng tỷ lệ mới khoảng 0,2% trong hơn 900.000 doanh nghiệp đang hoạt động.
![]() |
| Bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HalalViet phát biểu tham luận tại Hội nghị. Ảnh: Trọng Nghĩa. |
Theo bà Bá Thị Nguyệt Thu, ba nút thắt lớn là chứng nhận và tiêu chuẩn trùng lặp; đứt gãy chuỗi cung ứng, logistics Halal; thiếu thông tin thị trường và kênh phân phối. Chi phí chứng nhận, tư vấn và tái cấu trúc cao, thời gian đánh giá có thể kéo dài 6-12 tháng; Việt Nam còn thiếu kho lạnh, kho bãi và phương tiện vận chuyển chuyên biệt Halal.
HalalViet đề xuất đẩy nhanh thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về chứng nhận giữa Việt Nam với các thị trường trọng điểm; xây dựng cổng thông tin cảnh báo Halal, cập nhật quy định, rào cản kỹ thuật và danh sách nhà nhập khẩu uy tín; xây dựng gian hàng chung “Halal Vietnam”. Doanh nghiệp cần chuẩn hóa vùng nguyên liệu, xây dựng hệ thống quản trị Halal, lựa chọn cơ quan chứng nhận phù hợp và liên kết với Cục Xúc tiến thương mại, các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.
Nhìn từ Hội nghị, bài toán Halal không chỉ là thêm một chứng nhận cho sản phẩm, mà là tổ chức lại chuỗi giá trị theo thị trường, trong đó chất lượng, an toàn, truy xuất, logistics, tiêu chuẩn và thương hiệu phải vận hành đồng bộ. Khi Thương vụ cung cấp thông tin, mở đường tiêu chuẩn, xúc tiến thị trường; doanh nghiệp chuẩn hóa nguồn cung, đầu tư công nghệ và liên kết chuỗi, lợi thế nông sản Việt Nam mới có thể chuyển thành năng lực cung ứng Halal thực chất.
Hội nghị vì thế không dừng ở nhận diện cơ hội mà là yêu cầu của thị trường Halal. Giá trị quan trọng là kết nối nguồn cung trong nước với nhu cầu thị trường, biến thông tin thành quyết định kinh doanh, tiêu chuẩn thành năng lực cạnh tranh và từng bước xây dựng nhận diện “Halal Việt Nam”. Đây là hướng đi để mở rộng thị trường xuất khẩu theo chiều sâu, nâng giá trị gia tăng và tạo thêm dư địa cho hàng hóa Việt Nam trên thị trường Halal thế giới.