Thứ bảy 26/09/2026 06:33
Thời tiết: Hà Nội 26°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 24°C
Hải Phòng 26°C
TP Hồ Chí Minh 27°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Xuất khẩu số sang EU: Lợi nhuận không còn đến từ ưu đãi thuế

Ngô Kiến (Thực hiện)
Hơn một tháng, kể từ khi Liên minh châu Âu (EU) đồng loạt triển khai các quy định mới đối với thương mại điện tử (TMĐT) xuyên biên giới, những tác động ban đầu đã dần hiện rõ. Không chỉ làm thay đổi cấu trúc chi phí hay yêu cầu tuân thủ, các chính sách mới còn cho thấy, EU đang định hình một mô hình quản lý thương mại số chặt chẽ hơn. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, bà Phạm Thị Xuân, Viện trưởng Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số, phân tích những tác động bước đầu, các rủi ro cần lưu ý và khuyến nghị giải pháp giúp doanh nghiệp thích ứng, duy trì lợi thế cạnh tranh tại thị trường EU.
Xuất khẩu số sang EU: Lợi nhuận không còn đến từ ưu đãi thuế
Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI.

Phóng viên: Quy định mới của EU đang buộc doanh nghiệp xuất khẩu qua TMĐT thay đổi cách vận hành, theo bà, mục tiêu sâu xa mà EU hướng tới thông qua các chính sách này là gì?

Bà Phạm Thị Xuân: Những tác động đầu tiên đã xuất hiện khá rõ. Việc chấm dứt ưu đãi thuế đối với các bưu kiện giá trị thấp, cùng với việc siết chặt các yêu cầu về dữ liệu, thủ tục hải quan và truy xuất nguồn gốc, đang buộc nhiều doanh nghiệp xuất khẩu qua TMĐT phải rà soát lại toàn bộ mô hình vận hành.

Xuất khẩu số sang EU: Lợi nhuận không còn đến từ ưu đãi thuế

TMĐT xuyên biên giới hiện không còn đơn thuần là câu chuyện bán được nhiều hàng hay tối ưu quảng cáo. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc vào khả năng quản trị toàn bộ chuỗi giao dịch, từ quản lý dữ liệu, tuân thủ pháp lý, vận hành logistics cho đến kiểm soát rủi ro. Đây sẽ là yếu tố quyết định khả năng đứng vững và mở rộng thị phần tại các thị trường lớn trong thời gian tới.

Bà Phạm Thị Xuân

Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào tối ưu chi phí và tốc độ giao hàng thì nay yếu tố tuân thủ trở thành một phần không thể tách rời trong chiến lược kinh doanh. Từ khâu khai báo hải quan, chứng từ, thông tin sản phẩm cho đến quản lý dữ liệu giao dịch đều phải được chuẩn hóa và đồng bộ hơn.

Theo tôi, những gì diễn ra trong hơn một tháng qua cho thấy đây không đơn thuần là một điều chỉnh về thuế hay thủ tục hải quan. EU đang từng bước chuyển sang mô hình quản lý TMĐT xuyên biên giới theo hướng kiểm soát toàn diện chuỗi giao dịch, từ nguồn gốc hàng hóa, dữ liệu khai báo đến nghĩa vụ thuế và trách nhiệm của từng chủ thể tham gia.

Thực tế, sự thay đổi này xuất phát từ chính tốc độ tăng trưởng quá nhanh của TMĐT xuyên biên giới. Trong nhiều năm, cơ chế miễn thuế nhập khẩu đối với các bưu kiện có giá trị dưới 150 EUR đã góp phần thúc đẩy thị trường phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, lượng hàng hóa giá trị thấp vào EU cũng tăng đột biến. Riêng năm 2025, khoảng 5,9 tỷ bưu kiện đã được nhập khẩu vào EU, cao gấp hơn bốn lần so với năm 2022, trong đó phần lớn đến từ các nền tảng TMĐT của Trung Quốc.

Khi quy mô giao dịch tăng quá nhanh, việc thay đổi phương thức quản lý là điều tất yếu. Mục tiêu của EU không chỉ là chống thất thu thuế mà còn hướng tới xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp trong và ngoài khối, đồng thời tăng cường kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ người tiêu dùng.

Điều đáng chú ý là xu hướng này không chỉ diễn ra tại EU. Trước đó, Hoa Kỳ cũng đã điều chỉnh chính sách đối với các lô hàng TMĐT giá trị thấp. Điều đó cho thấy, các nền kinh tế lớn đang chuyển từ tư duy ưu tiên tạo thuận lợi sang quản trị rủi ro, coi TMĐT xuyên biên giới là lĩnh vực cần được giám sát chặt chẽ hơn.

Vì vậy, điều doanh nghiệp Việt Nam cần nhìn nhận không chỉ là những chi phí phát sinh trong ngắn hạn mà là sự hình thành của một luật chơi mới. Doanh nghiệp càng thích ứng sớm, càng đầu tư vào năng lực tuân thủ và quản trị dữ liệu thì sẽ càng có lợi thế trong việc duy trì và mở rộng thị trường.

Phóng viên: Thay đổi trên tác động ra sao đối với hoạt động của doanh nghiệp và các nhà bán hàng trực tuyến Việt Nam, thưa bà?

Bà Phạm Thị Xuân: Tác động dễ nhận thấy nhất là cấu trúc chi phí kinh doanh đã thay đổi. Trước đây, nhiều doanh nghiệp xây dựng mô hình bán hàng dựa trên lợi thế miễn thuế đối với các đơn hàng giá trị thấp. Khi cơ chế này không còn, mỗi đơn hàng đều phát sinh thêm nghĩa vụ thuế và các chi phí liên quan. Với những mặt hàng có biên lợi nhuận thấp, chỉ cần tăng thêm vài EUR chi phí cũng đủ làm thay đổi đáng kể hiệu quả kinh doanh.

Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp không thể tiếp tục định giá theo cách cũ. Việc tính toán giá bán phải được thực hiện chi tiết đến từng mã hàng, từng thị trường và từng phương thức giao hàng, thay vì áp dụng một công thức chung cho toàn bộ danh mục sản phẩm.

Theo tôi, nhóm chịu tác động lớn nhất là các doanh nghiệp đang vận hành mô hình giao hàng trực tiếp từ Việt Nam hoặc Trung Quốc đến người tiêu dùng tại EU. Khi lợi thế thuế không còn, khoảng cách chi phí giữa mô hình này với phương thức nhập khẩu theo lô lớn, lưu kho tại EU rồi phân phối nội địa đang dần thu hẹp. Điều đó buộc doanh nghiệp phải cân nhắc lại chiến lược logistics và mô hình phân phối nếu muốn duy trì sức cạnh tranh.

Bên cạnh chi phí, áp lực về tuân thủ cũng gia tăng đáng kể. Doanh nghiệp phải bảo đảm mã HS được phân loại chính xác, hồ sơ đầy đủ và dữ liệu thống nhất giữa hóa đơn thương mại, tờ khai hải quan, chứng từ vận chuyển cũng như doanh thu trên các nền tảng bán hàng. Khi cơ quan quản lý tăng cường đối chiếu dữ liệu bằng công nghệ số, chỉ một sai lệch nhỏ cũng có thể dẫn đến chậm thông quan, phát sinh chi phí hoặc bị kiểm tra bổ sung.

Có thể nói, TMĐT xuyên biên giới hiện không còn đơn thuần là câu chuyện bán được nhiều hàng hay tối ưu quảng cáo. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc vào khả năng quản trị toàn bộ chuỗi giao dịch, từ quản lý dữ liệu, tuân thủ pháp lý, vận hành logistics cho đến kiểm soát rủi ro. Đây sẽ là yếu tố quyết định khả năng đứng vững và mở rộng thị phần tại các thị trường lớn trong thời gian tới.

Phóng viên: Trong “luật chơi” mới EU thiết lập, doanh nghiệp và các nhà bán hàng trực tuyến Việt Nam phải làm gì để vừa hạn chế rủi ro, vừa phát huy hiệu quả các lợi thế từ EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU), thưa bà?

Bà Phạm Thị Xuân: Theo tôi, điều doanh nghiệp cần thay đổi trước tiên là tư duy cạnh tranh. Nếu trước đây lợi thế chủ yếu đến từ ưu đãi thuế quan và chi phí thấp thì nay, yếu tố quyết định lại là năng lực tuân thủ, minh bạch chuỗi cung ứng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường.

Hiện nay, rủi ro lớn nhất không còn nằm ở việc chi phí tăng hay thủ tục phức tạp hơn, mà ở yêu cầu ngày càng cao về minh bạch xuất xứ hàng hóa. EU đang tăng cường kiểm soát nguy cơ hàng hóa từ các nước ngoài khối đi qua nước thứ ba để né các biện pháp thương mại hoặc tận dụng ưu đãi thuế quan. Với việc Việt Nam đang thực thi EVFTA, hàng hóa xuất khẩu của chúng ta chắc chắn sẽ được theo dõi chặt chẽ hơn để bảo đảm các ưu đãi chỉ áp dụng đối với những sản phẩm thực sự đáp ứng quy tắc xuất xứ.

Nếu doanh nghiệp không kiểm soát tốt nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất hoặc không chứng minh được tính minh bạch của chuỗi cung ứng, rủi ro sẽ không chỉ dừng lại ở việc một lô hàng bị kiểm tra hay chậm thông quan. Trong trường hợp phát hiện dấu hiệu gian lận có hệ thống, cơ quan chức năng của EU có thể mở rộng điều tra, xem xét lại điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan, thậm chí áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với cả nhóm doanh nghiệp hoặc ngành hàng.

Để thích ứng với bối cảnh mới, theo tôi doanh nghiệp và các nhà bán hàng trực tuyến Việt Nam cần ưu tiên một số giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, rà soát lại toàn bộ cấu trúc chi phí theo từng sản phẩm, từng thị trường để đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh khi các ưu đãi đối với đơn hàng giá trị thấp không còn.

Thứ hai, đánh giá lại mô hình logistics. Với những doanh nghiệp đã có doanh số ổn định tại EU, phương án nhập khẩu theo lô lớn, kết hợp lưu kho và phân phối nội địa có thể mang lại hiệu quả cao hơn so với mô hình gửi từng kiện hàng nhỏ như trước.

Thứ ba, đầu tư xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu đồng bộ. Dữ liệu về đơn hàng, doanh thu, vận chuyển, hóa đơn và hồ sơ hải quan cần được chuẩn hóa, kết nối thống nhất để bảo đảm khả năng đối soát, truy xuất và đáp ứng yêu cầu kiểm tra của cơ quan quản lý.

Thứ tư, chủ động rà soát cấu trúc pháp lý, nghĩa vụ thuế và toàn bộ hồ sơ chứng minh xuất xứ ngay từ đầu. Việc chuẩn bị đầy đủ hồ sơ về nguyên liệu, quy trình sản xuất và chứng từ xuất nhập khẩu không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro khi bị kiểm tra mà còn bảo vệ quyền được hưởng ưu đãi từ EVFTA.

Về dài hạn, tôi cho rằng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ dựa vào các hiệp định thương mại tự do. Khi các thị trường đề cao tính minh bạch và phát triển bền vững, nền tảng để doanh nghiệp giữ vững vị thế sẽ là chất lượng sản phẩm, năng lực đổi mới, giá trị gia tăng, uy tín thương hiệu và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Đây mới là yếu tố tạo nên sức cạnh tranh bền vững trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Kho hàng tối chuyển mình cùng logistics số

Kho hàng tối chuyển mình cùng logistics số

Khi lượng hàng hóa và đơn hàng tăng nhanh, kho bãi đang chuyển dần từ nơi lưu giữ hàng thành một mắt xích xử lý dữ liệu, robot và tự động hóa. Trong khi đó, quy định hiện hành mới chỉ điều chỉnh kho bãi dưới góc độ dịch vụ logistics và địa điểm lưu giữ hàng hóa, thực tế này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kho tự động, kho thông minh và kho hàng tối (kho vận hành dựa trên nền tảng công nghệ số).
InterLOG nối dài hành trình xanh Bắc - Trung - Nam, mở rộng kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu

InterLOG nối dài hành trình xanh Bắc - Trung - Nam, mở rộng kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, logistics ngày càng trở thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ FIATA World Congress 2025, VILOG 2026, Diễn đàn Logistics Quốc tế Đà Nẵng đến Vietnam International Sourcing 2026, InterLOG hiện diện tại các diễn đàn mở rộng kết nối, cập nhật xu hướng và tiếp cận những yêu cầu mới của thị trường.
Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng doanh số ô tô
cao nhất ASEAN-6

Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng doanh số ô tô cao nhất ASEAN-6

Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng doanh số ô tô cao nhất trong sáu thị trường ASEAN-6 trong nửa đầu năm 2026, theo Báo cáo Tổng quan thị trường ô Tô ASEAN-6 của PwC ngày 24/9/2026. Kết quả này diễn ra trong bối cảnh điện hóa tăng tốc, ra mắt nhiều mẫu xe có mức giá dễ tiếp cận hơn và nhu cầu tiêu dùng tiếp tục phục hồi, qua đó định hình lại thị trường ô tô Việt Nam.
Xuất khẩu sang Lào giảm gần 41% so với cùng kỳ

Xuất khẩu sang Lào giảm gần 41% so với cùng kỳ

Thương mại song phương Việt Nam - Lào ghi nhận xu hướng giảm trong 8 tháng năm 2026, khi xuất khẩu của Việt Nam sang Lào giảm gần 41% do nhóm hóa chất lao dốc, đồng thời tạo áp lực lên nhiều mặt hàng công nghiệp chủ lực.
Xuất khẩu gỗ khó đạt mục tiêu 19 tỷ USD cả năm

Xuất khẩu gỗ khó đạt mục tiêu 19 tỷ USD cả năm

Tám tháng năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 11,8 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ. Trong khi thị trường lớn nhất Hoa Kỳ vẫn còn nhiều bất ổn, các thị trường khác như: Trung Quốc, Nhật Bản, EU… tiếp tục mở ra dư địa tăng trưởng. Chặng cuối năm vì thế vừa là thách thức, vừa là cơ hội để ngành gỗ Việt Nam tăng tốc, hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt khoảng 19 tỷ USD. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) phân tích rõ hơn xung quanh vấn đề này.
Nhựa PET xuất khẩu chịu thuế chống bán phá giá 160,87 USD/tấn tại Brazil

Nhựa PET xuất khẩu chịu thuế chống bán phá giá 160,87 USD/tấn tại Brazil

Brazil chính thức áp dụng thuế chống bán phá giá 160,87 USD/tấn đối với nhựa PET nhập khẩu từ Việt Nam, với thời hạn tối đa 5 năm. Biện pháp này đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp xuất khẩu trong việc rà soát chính sách giá, chi phí và kế hoạch kinh doanh nhằm duy trì khả năng cạnh tranh tại thị trường Brazil.
Thương hiệu mạnh giúp doanh nghiệp gia tăng giá trị xuất khẩu

Thương hiệu mạnh giúp doanh nghiệp gia tăng giá trị xuất khẩu

Tám tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 374,84 tỷ USD, trong đó hàng công nghiệp chế biến chiếm 90,2%. Khi hàng Việt ngày càng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, bài toán không chỉ là xuất khẩu được bao nhiêu, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp giữ lại được bao nhiêu giá trị. Ở đó, thương hiệu là mắt xích nối công nghệ, chất lượng, sở hữu trí tuệ với niềm tin và khả năng định giá.
Thép điện Việt Nam được loại trừ khỏi biện pháp tự vệ tạm thời của châu Âu

Thép điện Việt Nam được loại trừ khỏi biện pháp tự vệ tạm thời của châu Âu

EU áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đối với một số sản phẩm thép điện và lõi thép từ ngày 25/9/2026. Hàng hóa có xuất xứ Việt Nam được loại trừ nhưng cần đáp ứng quy định về xuất xứ không ưu đãi của thị trường này.
Nhập khẩu máy cũ: Chất lượng phải chứng minh bằng dữ liệu

Nhập khẩu máy cũ: Chất lượng phải chứng minh bằng dữ liệu

Tám tháng năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 47,4 tỷ USD máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, tăng 22,1% so với cùng kỳ. Trong khi nhu cầu thiết bị cho sản xuất tiếp tục tăng, quy định mới không chỉ đặt giới hạn về tuổi máy mà còn yêu cầu chứng minh tiêu chuẩn, hiệu suất, mức tiêu hao, an toàn và môi trường. Với máy cũ, bài toán vì thế không còn nằm ở giá mua mà ở khả năng chứng minh giá trị sử dụng của thiết bị.
Xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan đạt 7,4 tỷ USD

Xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan đạt 7,4 tỷ USD

Tám tháng năm 2026, thương mại Việt Nam - Thái Lan tiếp tục tăng tốc, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đạt 18,5 tỷ USD, tăng 30,6% so với cùng kỳ. Hàng điện tử, máy móc và xăng dầu nổi lên như những động lực quan trọng cho cả hai chiều xuất khẩu và nhập khẩu.
Halal Việt Nam: Từ năng lực cung ứng đến mở rộng thị trường xuất khẩu

Halal Việt Nam: Từ năng lực cung ứng đến mở rộng thị trường xuất khẩu

Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại tháng 9/2026 tập trung nhận diện năng lực cung ứng Halal, cập nhật nhu cầu và quy định thị trường, bàn giải pháp tháo gỡ rào cản tiêu chuẩn, chứng nhận. Đây là cơ sở để hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài và doanh nghiệp phối hợp mở rộng các thị trường xuất khẩu bền vững.
TP. Hồ Chí Minh tìm lời giải giảm chi phí logistics

TP. Hồ Chí Minh tìm lời giải giảm chi phí logistics

TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu giảm chi phí logistics xuống còn 11-14% GRDP vào năm 2035, đồng thời nâng tỷ trọng đóng góp của ngành logistics lên 8-10% GRDP. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Thành phố đang tập trung vào hạ tầng, kết nối đa phương thức, tối ưu khai thác cảng và ứng dụng công nghệ.
Nâng giá trị xuất khẩu đặc sản vùng cao bằng công nghệ

Nâng giá trị xuất khẩu đặc sản vùng cao bằng công nghệ

Tám tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ; riêng nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 90,2% tổng kim ngạch. Trong xu hướng này, đặc sản vùng cao có thêm cơ hội bước vào những thị trường lớn nhờ công nghệ, thương mại điện tử và dữ liệu số. Tuy nhiên, để từ sản phẩm địa phương trở thành hàng hóa xuất khẩu, lợi thế về nguyên liệu cần được nâng lên thành năng lực chế biến, truy xuất, tiêu chuẩn hóa và liên kết chuỗi.
Xuất khẩu là động lực mở rộng thị trường của ngành thực phẩm-đồ uống Việt Nam

Xuất khẩu là động lực mở rộng thị trường của ngành thực phẩm-đồ uống Việt Nam

Nhận định này vừa được giới chuyên gia Vietnam Report đưa ra ngày 22/9/2026 trong báo cáo Top 10 công ty uy tín ngành thực phẩm-đồ uống (F&B) năm 2026.
Xuất khẩu năm 2026 có thể cán mốc 580 tỷ USD

Xuất khẩu năm 2026 có thể cán mốc 580 tỷ USD

Đến hết ngày 15/9/2026, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 400,84 tỷ USD. Kết quả này tạo nền tảng quan trọng để xuất khẩu hướng tới mục tiêu tăng trưởng 15-16%, tương ứng khoảng 546-550 tỷ USD trong cả năm, thậm chí, nếu duy trì tốc độ tăng trên 20% như thời gian qua, xuất khẩu còn có thể cán mốc 580 tỷ USD.

Đọc nhiều

quy-dinh-ve-dang-bai-gioi-thieu-cong-bo-ket-qua-nghien-cuu-tren-tap-chi-kinh-te-tai-chinh
toan-phat-group-2026
cty-cp-dai-phuc
acca-dung-24-8-24-10
phan-mem-ecus5
agribank
giai-phap-logistic
thong-bao
dung-song-phu-2-tuan
cong-ty-tnhh-thuong-mai-va-dich-vu-eco-patuo-viet-nam
dien-dan-thue-hai-quan-2
qc-250-x-250-2
qc-demo-3
qc-demo-4