| Thu thuế tài sản số - Bước đi cần thiết để quản lý minh bạch và chống thất thu ngân sách |
![]() |
| Ảnh: minh họa. |
Cụ thể, tai Điều 1 dự thảo đề xuất Thông tư quy định về chính sách thuế đối với giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP của Chính phủ về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Đối tượng áp dụng là các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động này.
Theo dự thảo, hoạt động chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa không phải chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT). Tuy nhiên, các dịch vụ liên quan khác không thuộc diện này vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật.
Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), dự thảo quy định nhà đầu tư là tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, có thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa, sẽ thực hiện kê khai và nộp thuế TNDN với thuế suất 20%, trừ các trường hợp được ưu đãi theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 10 Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 liên quan đến các mức ưu đãi trên doanh thu.
Thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa trong kỳ được xác định bằng giá bán trừ giá mua của tài sản mã hóa chuyển nhượng và các chi phí hợp lý liên quan đến giao dịch.
Đối với doanh nghiệp là tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP, thu nhập từ hoạt động cung cấp dịch vụ cũng chịu thuế TNDN với mức thuế suất 20%, trừ các trường hợp được hưởng ưu đãi theo quy định pháp luật.
Trong khi đó, nhà đầu tư là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài, nếu thực hiện chuyển nhượng tài sản mã hóa thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa tại Việt Nam, sẽ thuộc diện nộp thuế TNDN theo tỷ lệ 0,1% trên doanh thu chuyển nhượng từng lần.
Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo thông tư đó là đề xuất chính sách thuế TNCN dành cho hoạt động này. Cụ thể, dự thảo đề xuất, cá nhân (không phân biệt cư trú hay không cư trú) có hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa thông qua nền tảng giao dịch của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa sẽ phải nộp thuế TNCN với mức 0,1% trên doanh thu chuyển nhượng từng lần.
Thời điểm xác định doanh thu và thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa được thực hiện tương tự quy định về chuyển nhượng chứng khoán theo pháp luật về thuế TNDN và thuế TNCN hiện hành.
Theo quy định hiện hành, hoạt động liên quan đến chứng khoán đang chịu sự điều chỉnh của các sắc thuế gồm thuế GTGT, thuế TNDN và thuế TNCN. Trong khi đó, Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP của Chính phủ chỉ quy định chính sách thuế đối với giao dịch, chuyển nhượng và kinh doanh tài sản mã hóa, không bao gồm hoạt động phát hành.
Do vậy, dự thảo Thông tư đề xuất áp dụng chính sách thuế đối với tài sản mã hóa tương tự như đối với chứng khoán cho đến khi có quy định riêng cho thị trường này.
Theo TS. Phạm Nguyễn Anh Huy, Giảng viên cấp cao ngành Tài chính, Đại học RMIT Việt Nam, ở các nước phát triển như Mỹ, Anh và Australia, tài sản số (đặc biệt là tài sản mã hóa) phải chịu thuế thu nhập và thuế thặng dư vốn. Trong đó, nhà đầu tư phải đóng thuế thu nhập khi họ nhận được tài sản mã hóa cho các hoạt động như nhận lương bằng tài sản mã hóa, đào tiền mã hóa và các hình thức khóa tài sản mã hóa để nhận thưởng (staking).
Đối với thuế trên thặng dư vốn (capital gains tax), nhà đầu tư phải trả khoản thuế này nếu họ bán tài sản mã hóa để lấy tiền pháp định, giao dịch hoán đổi các lại tài sản mã hóa khác nhau hoăc dùng tài sản mã hóa để thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ. Mức thuế phải trả tùy thuộc vào việc nhà đầu tư nắm giữ các loại tài sản mã hóa dài hạn hay ngắn hạn, trong đó, mức thuế cho việc nắm giữ ngắn hạn cao hơn đáng kể.
Do đó, việc đề xuất áp dụng thuế suất 0,1% tương tự như chứng khoán là một bước đi hợp lý trong ngắn hạn vì tính đơn giản, dễ áp dụng, và không yêu cầu định giá tài sản phức tạp. Cách tiếp cận này sẽ dễ triển khai kỹ thuật thông qua hạ tầng số, đặc biệt khi giao dịch diễn ra trên các sàn giao dịch minh bạch.