![]() |
| Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế). |
Thưa ông, gần đây có nhiều ý kiến băn khoăn về đề xuất bổ sung ngưỡng nợ thuế từ 1 triệu đồng để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế có nợ thuế quá hạn và không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Ông có thể làm rõ bản chất của đề xuất này?
Trước hết cần khẳng định rằng, đây không phải là quy định siết chặt hơn so với hiện hành, mà thực chất là bước điều chỉnh theo hướng hợp lý hơn, sát thực tiễn hơn và tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế.
Theo quy định hiện hành tại Nghị định số 49/2025/NĐ-CP, đối với trường hợp người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, pháp luật chưa quy định ngưỡng nợ tối thiểu để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Điều đó có nghĩa là chỉ cần phát sinh khoản nợ thuế quá hạn, dù rất nhỏ, người nộp thuế vẫn có thể thuộc diện xem xét áp dụng biện pháp này nếu đã được cơ quan thuế thông báo nhưng không khắc phục trong thời hạn quy định.
Trong khi đó, dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 bổ sung ngưỡng nợ từ 1 triệu đồng trở lên. Như vậy, xét về bản chất pháp lý, đây là bước thu hẹp phạm vi áp dụng so với quy định hiện hành, bởi nhiều trường hợp có khoản nợ rất nhỏ sẽ được loại trừ khỏi diện xem xét áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.
Việc bổ sung ngưỡng này là kết quả của quá trình rà soát thực tiễn, lắng nghe và tiếp thu ý kiến phản hồi của cộng đồng người nộp thuế nhằm hạn chế tối đa những tác động không cần thiết đối với người dân, doanh nghiệp, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế.
Điều quan trọng cần nhấn mạnh là dự thảo Nghị định tiếp tục kế thừa tinh thần của Nghị định số 49/2025/NĐ-CP nhưng điều chỉnh theo hướng cụ thể hóa hơn, phân loại rõ hơn từng nhóm đối tượng và bảo đảm hài hòa hơn giữa yêu cầu quản lý thuế với quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế.
Xin ông cho biết cụ thể các trường hợp thuộc diện bị tạm hoãn xuất cảnh theo dự thảo Nghị định?
Dự thảo Nghị định tiếp tục kế thừa các nhóm trường hợp đã được quy định tại Nghị định số 49/2025/NĐ-CP, đồng thời bổ sung, hoàn thiện một số nội dung để phù hợp hơn với Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15.
Đối với nhóm cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, trường hợp thuộc diện bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế, có số tiền nợ từ 50 triệu đồng trở lên và nợ quá hạn từ 120 ngày trở lên sẽ thuộc diện xem xét áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.
Đối với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, điều kiện áp dụng gồm: thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế; có số tiền nợ từ 500 triệu đồng trở lên và nợ quá hạn từ 120 ngày trở lên. Điểm mới là dự thảo đã bổ sung đối tượng “chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp” nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15.
Riêng đối với nhóm người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký - nội dung đang được dư luận quan tâm nhiều nhất hiện nay - dự thảo quy định việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh chỉ đặt ra khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; có số tiền thuế nợ từ 1 triệu đồng trở lên; và quá 30 ngày kể từ ngày cơ quan thuế gửi thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Ngoài ra, dự thảo tiếp tục kế thừa quy định áp dụng đối với người nước ngoài còn nợ thuế quá hạn; người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước khi xuất cảnh khỏi Việt Nam mà còn nợ thuế quá hạn.
Như vậy, dự thảo Nghị định không mở rộng đối tượng áp dụng mà chủ yếu kế thừa quy định hiện hành và phù hợp với Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, đồng thời điều chỉnh theo hướng rõ ràng, minh bạch và sát thực tiễn hơn.
Vậy cơ sở nào để cơ quan Thuế đề xuất mức ngưỡng 1 triệu đồng đối với trường hợp người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký?
Việc đề xuất ngưỡng 1 triệu đồng được nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu quản lý thực tế và yêu cầu bảo đảm tính tương xứng giữa hành vi vi phạm với biện pháp quản lý nhà nước áp dụng.
Theo số liệu tổng hợp của cơ quan Thuế, hiện có hơn 50% người nộp thuế ở trạng thái không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng, nhưng tổng số nợ của nhóm này chỉ chiếm khoảng 0,2% tổng số nợ thuế. Điều đó phản ánh thực tế là hơn một nửa số đối tượng thuộc diện quản lý đặc biệt chỉ chiếm tỷ trọng nợ thuế rất nhỏ.
Nếu tiếp tục áp dụng cơ chế không có ngưỡng như hiện hành thì biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể tác động tới số lượng lớn người nộp thuế chỉ vì các khoản nợ rất nhỏ, phát sinh do sai sót kỹ thuật, chậm cập nhật dữ liệu hoặc nguyên nhân khách quan khác, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng.
![]() |
| Thời gian qua, cùng với việc tăng cường quản lý, ngành Thuế đã triển khai các buổi tập huấn, tuyên truyền chính sách thuế mới đến với người nộp thuế. Ảnh: TL. |
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng trường hợp “không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký” không đơn thuần chỉ là vấn đề nợ thuế. Đây là dấu hiệu rủi ro tuân thủ cao, thể hiện việc người nộp thuế không duy trì thông tin đăng ký chính xác, gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra và thu hồi nợ thuế của cơ quan nhà nước.
Do đó, việc áp dụng biện pháp quản lý đối với nhóm đối tượng này không chỉ dựa trên số tiền nợ mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính tuân thủ pháp luật và ngăn ngừa tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh để né tránh nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Có thể nói, ngưỡng 1 triệu đồng không phải là thước đo duy nhất mà là điều kiện bổ sung trong tổng thể các dấu hiệu vi phạm đã được xác định.
Nếu đặt ngưỡng quá cao có thể dẫn tới tâm lý chây ỳ, lợi dụng kẽ hở để kéo dài tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh. Ngược lại, nếu tiếp tục duy trì cơ chế không ngưỡng như hiện nay thì có thể phát sinh trường hợp khoản nợ rất nhỏ vẫn bị áp dụng biện pháp mạnh. Vì vậy, mức 1 triệu đồng được xác định là giải pháp dung hòa giữa yêu cầu quản lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế.
Một số ý kiến lo ngại quy định này có thể ảnh hưởng đến quyền tự do đi lại của người dân. Ông đánh giá như thế nào về vấn đề này?
Tôi cho rằng cần nhìn nhận đầy đủ quy trình áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh theo dự thảo Nghị định để thấy rõ quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế luôn được bảo đảm.
Trước hết, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh không được áp dụng ngay khi phát sinh nợ thuế. Theo dự thảo, trước thời điểm ban hành thông báo tạm hoãn xuất cảnh 30 ngày, cơ quan quản lý thuế phải gửi thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp này để người nộp thuế biết và chủ động khắc phục.
Khoảng thời gian 30 ngày được xem là khoảng đệm hợp lý để người nộp thuế kiểm tra, đối chiếu số nợ; thực hiện nộp tiền thuế; liên hệ với cơ quan thuế để xử lý nếu có sai sót dữ liệu; hoặc chủ động điều chỉnh kế hoạch xuất cảnh của mình. Điều này nhằm bảo đảm quyền được biết và quyền được khắc phục của người nộp thuế trước khi áp dụng biện pháp hành chính hạn chế quyền xuất cảnh.
Dự thảo cũng quy định thông báo được thực hiện đồng thời qua nhiều kênh như tài khoản giao dịch thuế điện tử và công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế nhằm tăng khả năng tiếp cận thông tin, hạn chế tranh chấp về việc “không nhận được thông báo”.
Như vậy, quy trình được thiết kế theo ba bước rõ ràng gồm: xác định thuộc diện áp dụng; thông báo trước 30 ngày; và chỉ thực hiện tạm hoãn xuất cảnh nếu người nộp thuế vẫn không khắc phục sau khi đã được cảnh báo đầy đủ. Điều này thể hiện nguyên tắc ưu tiên người nộp thuế tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trước khi áp dụng biện pháp hành chính hạn chế quyền xuất cảnh.
Thực tiễn triển khai cho thấy cơ chế này chủ yếu mang tính cảnh báo và tạo điều kiện khắc phục. Theo số liệu tổng hợp, đã có khoảng 7.100 người nộp thuế chủ động liên hệ cơ quan thuế để hoàn thành nghĩa vụ và được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh. Điều đó cho thấy phần lớn trường hợp sau khi được thông báo đều đã chủ động phối hợp xử lý để bảo đảm quyền lợi của mình.
Ông có khuyến nghị gì đối với người nộp thuế để tránh phát sinh vướng mắc liên quan đến xuất cảnh?
Người nộp thuế cần chủ động theo dõi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế của mình nhằm tránh phát sinh những ảnh hưởng không cần thiết tới kế hoạch xuất cảnh cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong đó, cần thường xuyên rà soát tình trạng nghĩa vụ thuế trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính hoặc ứng dụng eTax Mobile; cập nhật đầy đủ địa chỉ đăng ký kinh doanh; chủ động liên hệ với cơ quan thuế khi có thay đổi thông tin hoặc phát sinh vướng mắc liên quan đến dữ liệu thuế.
Đồng thời, nên cài đặt và sử dụng các ứng dụng điện tử của ngành Thuế để kịp thời tiếp nhận các thông báo từ cơ quan thuế bằng phương thức điện tử.
Xin trân trọng cảm ơn ông!