Thứ sáu 18/09/2026 19:53
Thời tiết: Hà Nội 31°C
Đà Nẵng 29°C
Cà Mau 28°C
Hải Phòng 28°C
TP Hồ Chí Minh 25°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Logistics: “Điểm chạm” chiến lược của thương mại điện tử

Thái Hằng
Sự phát triển bùng nổ của thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam trong những năm gần đây không chỉ mang lại nhiều cơ hội tăng trưởng đáng kể mà còn đặt ra thách thức lớn trong việc kiểm soát chi phí và tối ưu hóa vận hành khi quy mô thị trường ngày càng mở rộng. Để giải bài toán này, hiện có khoảng 70% doanh nghiệp logistics tại Việt Nam đã áp dụng ít nhất một giải pháp số, góp phần cắt giảm từ 20-25% chi phí quản lý.
Doanh nghiệp logistics cần bám sát lô hàng, kịp thời tư vấn cho doanh nghiệp xuất, nhập khẩu Chính sách thuế đối với dịch vụ logistics và thương mại điện tử xuyên biên giới Tái cấu trúc toàn diện hệ thống logistics trong thương mại điện tử
Logistics: “Điểm chạm” chiến lược của thương mại điện tử
Logistics không còn là chi phí phụ trợ, mà đã trở thành yếu tố cốt lõi chi phối hiệu quả tài chính của toàn bộ ngành TMĐT.

Áp lực chi phí ngày càng gia tăng

Theo số liệu từ Hiệp hội TMĐT Việt Nam, năm 2025 ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng khi doanh thu các sàn lớn đạt khoảng 387,5 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 21% so với năm trước. Song song với đó, thị trường giao hàng chặng cuối cũng tăng trưởng mạnh, đạt quy mô 75.000-80.000 tỷ đồng, với tốc độ tăng từ 18-20%.

Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực là áp lực chi phí ngày càng gia tăng. Với một nền tảng có quy mô lớn như TikTok Shop, chiếm khoảng 42% thị phần tương đương gần 840 triệu đơn hàng mỗi năm, chi phí vận chuyển có thể lên tới 12.600-16.800 tỷ đồng. Nếu phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác bên ngoài, khoản tiền khổng lồ này sẽ “chảy” ra khỏi hệ sinh thái, làm giảm đáng kể biên lợi nhuận.

Điều này phản ánh một thực tế là logistics không còn là chi phí phụ trợ, mà đã trở thành yếu tố cốt lõi chi phối hiệu quả tài chính của toàn bộ ngành TMĐT.

Ở tầm vĩ mô, Báo cáo Logistics Việt Nam 2025 ghi nhận, chi phí logistics của Việt Nam hiện ở mức cao so với thế giới, chiếm khoảng 16-17% GDP, gần gấp đôi mức trung bình toàn cầu (8-10%). Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam nằm trong nhóm có chi phí logistics cao nhất, cùng với Indonesia, tiệm cận ngưỡng 20% GDP.

Báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cũng cho thấy, trong quý I/2026, chỉ số giá sản xuất trong lĩnh vực dịch vụ tăng 2,08% so với quý trước và tăng 4,07% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, nhóm dịch vụ vận tải và kho bãi ghi nhận mức tăng mạnh 8,77% so với cùng kỳ, trong đó giá dịch vụ vận tải hàng không tăng đột biến tới 69,85%. Diễn biến này được xem là một trong những nguyên nhân chính làm chi phí logistics tăng cao, từ đó tác động lan rộng đến nhiều ngành sản xuất khác.

Kết quả khảo sát nhanh do Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ) phối hợp cùng cơ quan liên quan thực hiện trên 228 doanh nghiệp trong giai đoạn từ 16-22/3/2026 cũng cho thấy tác động của xung đột đã không còn dừng ở mức rủi ro tiềm ẩn mà đã trở thành áp lực hiện hữu đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Những lĩnh vực chịu tác động mạnh nhất gồm logistics - vận tải, thương mại - xuất nhập khẩu, sản xuất công nghiệp và xây dựng. Đa số doanh nghiệp cho biết chi phí logistics tăng từ 5-15%, trong khi 8,1% phản ánh mức tăng trên 30%.

Các chuyên gia cho rằng, đây là một bất lợi lớn trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Theo TS Nguyễn Thị Hà (Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Công nghệ Đông Á), nguyên nhân không chỉ đến từ nội tại, mà còn chịu tác động mạnh từ biến động chuỗi cung ứng toàn cầu.

“Những xung đột địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông, đã khiến giá cước vận tải có thời điểm tăng gấp nhiều lần, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh chiến lược sản xuất, phân phối và thị trường”, bà Hà cho hay.

Trong nước, vận tải đường bộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhưng chi phí cao, trong khi các phương thức tiết kiệm hơn như đường thủy lại chưa được khai thác hiệu quả do hạn chế về hạ tầng và kết nối. Điều này khiến chi phí logistics khó có thể giảm nhanh trong ngắn hạn.

Đối với TMĐT, TS Nguyễn Thị Hà cho rằng, áp lực còn lớn hơn khi số lượng đơn hàng tăng trưởng theo cấp số nhân. “Hiện nay, thị trường ghi nhận khoảng 8-9 triệu đơn hàng mỗi ngày, tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn. Tần suất giao dịch cao, yêu cầu xử lý nhanh và chính xác khiến logistics trở thành yếu tố quyết định trong cuộc đua cạnh tranh giữa các sàn”, bà Hà phân tích.

Thực tế vận hành đã cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nền tảng. Những sàn có hệ thống logistics nội bộ thường xử lý đơn hàng và đổi trả nhanh hơn đáng kể so với các đơn vị phụ thuộc vào bên thứ ba. Ví dụ, thời gian xử lý đổi trả có thể chỉ mất 1-2 ngày ở hệ thống nội bộ, trong khi có thể kéo dài 4-5 ngày nếu thông qua đối tác. Khoảng cách này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí, mà còn tác động trực tiếp đến trải nghiệm người dùng.

Logistics: “Điểm chạm” chiến lược của thương mại điện tử
Khi thị trường tiếp tục mở rộng, khả năng tự chủ logistics sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh của các sàn TMĐT.

Doanh nghiệp tăng tốc “giữ tiền” qua bài toán logistics

Trong hệ sinh thái TMĐT, giao nhận là khâu duy nhất kết nối trực tiếp giữa nền tảng và người tiêu dùng. Điều đó đồng nghĩa với việc mọi trải nghiệm, từ tốc độ giao hàng, độ chính xác đến thái độ phục vụ đều được quyết định tại đây. Thực tế cho thấy, những năm gần đây, nhờ ứng dụng công nghệ và tự động hóa, thời gian giao hàng nội đô đã được rút ngắn đáng kể, từ 24-48 giờ xuống còn 12-24 giờ. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ, mà còn định hình lại kỳ vọng của người tiêu dùng.

Cùng với đó, các sàn TMĐT đang tăng tốc đầu tư vào logistics như một chiến lược dài hạn. Theo đó, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác, nhiều nền tảng đã chủ động xây dựng hệ thống kho bãi, trung tâm phân loại và mạng lưới giao nhận riêng. Ở một số khu vực, hệ thống nội bộ có thể xử lý tới 50-80% tổng số đơn hàng. Xu hướng này cũng phù hợp với dự báo của Bộ Công Thương khi TMĐT được kỳ vọng đạt quy mô 50-70 tỷ USD vào năm 2030.

Theo Hiệp hội TMĐT Việt Nam, việc xây dựng hệ thống logistics riêng sẽ giúp các sàn đạt được hai lợi ích cốt lõi.

Thứ nhất, các sàn có thể giữ lại nguồn thu từ phí vận chuyển, là khoản doanh thu rất lớn của các sàn nếu xét trên quy mô hàng trăm triệu đơn hàng mỗi năm. Thay vì chia sẻ cho đối tác, khoản tiền này được tái đầu tư vào hệ sinh thái, giúp cải thiện biên lợi nhuận.

Thứ hai, tự chủ logistics cho phép các nền tảng linh hoạt hơn trong việc triển khai các chương trình miễn phí vận chuyển. Khi đó, “free ship” không còn đơn thuần là chi phí marketing, mà trở thành công cụ điều tiết lợi nhuận và kích thích tiêu dùng.

Tuy nhiên, mô hình này cũng tiềm ẩn rủi ro. Logistics là lĩnh vực có chi phí cố định cao, đòi hỏi đầu tư lớn vào hạ tầng và công nghệ. Nếu sản lượng đơn hàng không đủ lớn hoặc thị phần suy giảm, hệ thống có thể trở nên kém hiệu quả, thậm chí buộc phải thu hẹp hoạt động.

Thực tế, thị trường đã ghi nhận những trường hợp hệ thống giao nhận nội bộ từng chiếm tới 85% đơn hàng, nhưng sau đó phải dừng hoạt động chặng cuối khi quy mô không còn đủ để duy trì. Điều này cho thấy bài toán logistics không chỉ nằm ở đầu tư, mà còn phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng duy trì tăng trưởng ổn định.

Điểm đáng chú ý nữa là cạnh tranh trong TMĐT đang dần chuyển từ giá sang chất lượng dịch vụ. Người tiêu dùng ngày càng ít bị thu hút bởi khuyến mãi đơn thuần, mà quan tâm nhiều hơn đến trải nghiệm thực tế: sản phẩm có đúng mô tả hay không, giao hàng có đúng hẹn hay không, và dịch vụ hỗ trợ có kịp thời hay không.

Trong bối cảnh đó, logistics trở thành yếu tố then chốt để xây dựng niềm tin. Hiện đã có khoảng 70% doanh nghiệp logistics tại Việt Nam triển khai ít nhất một giải pháp số, giúp giảm 20-25% chi phí quản lý. Các công nghệ như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa cũng đang dần trở thành tiêu chuẩn trong ngành.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thép Việt trước rủi ro phòng vệ thương mại tại EAEU

Thép Việt trước rủi ro phòng vệ thương mại tại EAEU

Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) đã khởi xướng điều tra tự vệ đối với thép cán phẳng phủ polyme nhập khẩu sau khi ghi nhận các thông tin về lượng nhập khẩu gia tăng và nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội khối. Doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động xuất khẩu mặt hàng này cần lưu ý các thời hạn tham gia vụ việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Xuất nhập khẩu vượt mốc 825 tỷ USD

Xuất nhập khẩu vượt mốc 825 tỷ USD

Nửa đầu tháng 9/2026, hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục duy trì quy mô cao, đưa tổng kim ngạch lũy kế từ đầu năm vượt mốc 825 tỷ USD. Đằng sau quy mô và tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của dòng chảy hàng hóa là sự gia tăng năng lực sản xuất, sức cầu đối với nguyên liệu đầu vào và vai trò ngày càng rõ nét của cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, tạo thuận lợi thương mại của cơ quan Hải quan.
Xuất khẩu cá tra sang Hoa Kỳ gặp khó

Xuất khẩu cá tra sang Hoa Kỳ gặp khó

Xuất khẩu cá tra Việt Nam sang Hoa Kỳ đang chịu sức ép kép từ các lớp thuế bổ sung, thuế chống bán phá giá, xu hướng bảo hộ ngành cá da trơn nội địa và sức mua thủy sản suy yếu.
Khu vực FDI tiếp tục là lực kéo thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu

Khu vực FDI tiếp tục là lực kéo thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Không chỉ đóng góp gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu, khu vực này còn đang dẫn dắt nhiều ngành hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, góp phần đưa sản phẩm Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bao bì đạt chuẩn sẽ tăng khả năng đáp ứng đơn hàng của các tập đoàn FDI

Bao bì đạt chuẩn sẽ tăng khả năng đáp ứng đơn hàng của các tập đoàn FDI

Không chỉ sản phẩm, doanh nghiệp điện tử Việt Nam đang phải chứng minh cả vật liệu bao bì, hóa chất, khả năng tái chế, dữ liệu truy xuất và phát thải. Khi các yêu cầu xanh đi sâu vào chuỗi cung ứng, một chiếc hộp không đạt chuẩn cũng có thể trở thành điểm nghẽn đối với đơn hàng xuất khẩu.
Tổ chức lại hạ tầng theo dòng hàng để phát triển hạ tầng logistics

Tổ chức lại hạ tầng theo dòng hàng để phát triển hạ tầng logistics

Chi phí logistics vẫn là sức ép lớn với hoạt động xuất nhập khẩu khi hàng hóa còn phụ thuộc nhiều vào đường bộ, trong khi kết nối giữa khu sản xuất, trung tâm logistics, cảng cạn và các đầu mối vận tải chưa liền mạch. Bài toán đặt ra là tổ chức lại hạ tầng theo dòng hàng, tăng liên kết đa phương thức để rút ngắn hành trình và hạn chế chi phí phát sinh.
Kim ngạch xuất nhập khẩu qua Chi cục Hải quan khu vực VII đạt hơn 2,5 tỷ USD

Kim ngạch xuất nhập khẩu qua Chi cục Hải quan khu vực VII đạt hơn 2,5 tỷ USD

Tám tháng năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu qua Chi cục Hải quan khu vực VII (địa bàn Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu) đạt 2,525 tỷ USD, tăng 54% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 8, kim ngạch đạt hơn 438 triệu USD, tăng 57%, trong bối cảnh hoạt động thông quan tại các cửa khẩu được duy trì ổn định, không phát sinh ùn tắc hàng hóa, phương tiện.
Công bố 59 quốc gia được phép xuất nhập khẩu kim cương thô

Công bố 59 quốc gia được phép xuất nhập khẩu kim cương thô

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) vừa công Danh sách 59 quốc gia được phép xuất nhập khẩu kim cương thô, là thành viên của Quy chế chứng nhận Quy trình Kimberley (Quy chế Kimberley). Trong đó, có nhiều thị trường là đối tác lớn của Việt Nam như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên minh châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Xuất nhập khẩu của TP. Hải Phòng tiếp tục đà tăng trưởng hai con số

Xuất nhập khẩu của TP. Hải Phòng tiếp tục đà tăng trưởng hai con số

Phát huy lợi thế cảng biển lớn nhất miền Bắc, hoạt động xuất nhập khẩu của TP. Hải Phòng 8 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực hai con số với tổng kim ngạch đạt gần 65 tỷ USD và vững vàng ở nhóm đầu cả nước.
Tháng 8: TP. Hồ Chí Minh xuất siêu 897 triệu USD

Tháng 8: TP. Hồ Chí Minh xuất siêu 897 triệu USD

Trong tháng 8/2026, cán cân thương mại tại TP. Hồ Chí Minh bắt đầu xuất siêu 897 triệu USD và triển vọng đến hết năm 2026 hoạt động xuất khẩu được tiếp tục đẩy mạnh.
Xuất khẩu hoa hồi chuyển hướng sang châu Mỹ

Xuất khẩu hoa hồi chuyển hướng sang châu Mỹ

Tám tháng năm 2026, xuất khẩu hoa hồi của Việt Nam cho thấy sự thay đổi đáng chú ý về thị trường khi châu Mỹ nổi lên mạnh mẽ, bù đắp mức giảm tại châu Á. Diễn biến này mở thêm dư địa cần đa dạng hóa thị trường để gia tăng xuất khẩu bền vững.
Làm gì để đặc sản vùng cao vươn ra thế giới

Làm gì để đặc sản vùng cao vươn ra thế giới

Đặc sản vùng cao có lợi thế về nguyên liệu, chất lượng và bản sắc, trong khi các thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc còn nhiều dư địa. Tuy nhiên, để bước qua biên giới, những giá trị như “tự nhiên”, “truyền thống”, “bản địa” phải được chuyển hóa thành chất lượng có thể kiểm nghiệm, tiêu chuẩn có thể chứng minh và sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tăng kết nối giao thương Việt Nam - Trung Quốc

Tăng kết nối giao thương Việt Nam - Trung Quốc

Hàng hóa qua Lào Cai sẽ có thêm các hướng kết nối khi tỉnh đồng thời triển khai các nhiệm vụ về đường sắt, đường bộ, cửa khẩu và logistics. Đáng chú ý là việc hoàn thiện hạ tầng cửa khẩu quốc tế đường sắt Lào Cai - Hà Khẩu, mở lối thông quan Bản Vược - Bá Sái và thí điểm cửa khẩu thông minh tại Kim Thành - Bắc Sơn.
Khơi thông thể chế, nâng sức cạnh tranh logistics Việt Nam

Khơi thông thể chế, nâng sức cạnh tranh logistics Việt Nam

Logistics đang chuyển nhanh sang chuỗi cung ứng tích hợp, gắn với thương mại điện tử, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các trung tâm logistics, trong khi khung pháp lý còn thiếu đồng bộ. Điểm nghẽn vì thế không chỉ nằm ở quy định riêng lẻ, mà ở sự kết nối giữa các lĩnh vực. Hoàn thiện thể chế theo hướng rõ ràng, thống nhất và linh hoạt là điều kiện để khơi thông dòng hàng, giảm chi phí và nâng sức cạnh tranh của logistics Việt Nam.
Bắc Ninh giữ vững vị trí dẫn đầu trên bản đồ xuất nhập khẩu

Bắc Ninh giữ vững vị trí dẫn đầu trên bản đồ xuất nhập khẩu

Theo số liệu thống kê mới nhất của Cục Hải quan, hết tháng 8/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh Bắc Ninh đạt hơn 153 tỷ USD, tiếp tục vững vàng ở vị trí dẫn đầu cả nước. Trong đó, xuất khẩu đạt hơn 75,48 tỷ USD, nhập khẩu đạt hơn 77,69 tỷ USD.