Thứ hai 09/11/2026 00:20
Thời tiết: Hà Nội 24°C
Đà Nẵng 27°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 26°C
TP Hồ Chí Minh 26°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Logistics: “Điểm chạm” chiến lược của thương mại điện tử

Thái Hằng
Sự phát triển bùng nổ của thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam trong những năm gần đây không chỉ mang lại nhiều cơ hội tăng trưởng đáng kể mà còn đặt ra thách thức lớn trong việc kiểm soát chi phí và tối ưu hóa vận hành khi quy mô thị trường ngày càng mở rộng. Để giải bài toán này, hiện có khoảng 70% doanh nghiệp logistics tại Việt Nam đã áp dụng ít nhất một giải pháp số, góp phần cắt giảm từ 20-25% chi phí quản lý.
Doanh nghiệp logistics cần bám sát lô hàng, kịp thời tư vấn cho doanh nghiệp xuất, nhập khẩu Chính sách thuế đối với dịch vụ logistics và thương mại điện tử xuyên biên giới Tái cấu trúc toàn diện hệ thống logistics trong thương mại điện tử
Logistics: “Điểm chạm” chiến lược của thương mại điện tử
Logistics không còn là chi phí phụ trợ, mà đã trở thành yếu tố cốt lõi chi phối hiệu quả tài chính của toàn bộ ngành TMĐT.

Áp lực chi phí ngày càng gia tăng

Theo số liệu từ Hiệp hội TMĐT Việt Nam, năm 2025 ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng khi doanh thu các sàn lớn đạt khoảng 387,5 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 21% so với năm trước. Song song với đó, thị trường giao hàng chặng cuối cũng tăng trưởng mạnh, đạt quy mô 75.000-80.000 tỷ đồng, với tốc độ tăng từ 18-20%.

Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực là áp lực chi phí ngày càng gia tăng. Với một nền tảng có quy mô lớn như TikTok Shop, chiếm khoảng 42% thị phần tương đương gần 840 triệu đơn hàng mỗi năm, chi phí vận chuyển có thể lên tới 12.600-16.800 tỷ đồng. Nếu phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác bên ngoài, khoản tiền khổng lồ này sẽ “chảy” ra khỏi hệ sinh thái, làm giảm đáng kể biên lợi nhuận.

Điều này phản ánh một thực tế là logistics không còn là chi phí phụ trợ, mà đã trở thành yếu tố cốt lõi chi phối hiệu quả tài chính của toàn bộ ngành TMĐT.

Ở tầm vĩ mô, Báo cáo Logistics Việt Nam 2025 ghi nhận, chi phí logistics của Việt Nam hiện ở mức cao so với thế giới, chiếm khoảng 16-17% GDP, gần gấp đôi mức trung bình toàn cầu (8-10%). Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam nằm trong nhóm có chi phí logistics cao nhất, cùng với Indonesia, tiệm cận ngưỡng 20% GDP.

Báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cũng cho thấy, trong quý I/2026, chỉ số giá sản xuất trong lĩnh vực dịch vụ tăng 2,08% so với quý trước và tăng 4,07% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, nhóm dịch vụ vận tải và kho bãi ghi nhận mức tăng mạnh 8,77% so với cùng kỳ, trong đó giá dịch vụ vận tải hàng không tăng đột biến tới 69,85%. Diễn biến này được xem là một trong những nguyên nhân chính làm chi phí logistics tăng cao, từ đó tác động lan rộng đến nhiều ngành sản xuất khác.

Kết quả khảo sát nhanh do Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ) phối hợp cùng cơ quan liên quan thực hiện trên 228 doanh nghiệp trong giai đoạn từ 16-22/3/2026 cũng cho thấy tác động của xung đột đã không còn dừng ở mức rủi ro tiềm ẩn mà đã trở thành áp lực hiện hữu đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Những lĩnh vực chịu tác động mạnh nhất gồm logistics - vận tải, thương mại - xuất nhập khẩu, sản xuất công nghiệp và xây dựng. Đa số doanh nghiệp cho biết chi phí logistics tăng từ 5-15%, trong khi 8,1% phản ánh mức tăng trên 30%.

Các chuyên gia cho rằng, đây là một bất lợi lớn trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Theo TS Nguyễn Thị Hà (Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Công nghệ Đông Á), nguyên nhân không chỉ đến từ nội tại, mà còn chịu tác động mạnh từ biến động chuỗi cung ứng toàn cầu.

“Những xung đột địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông, đã khiến giá cước vận tải có thời điểm tăng gấp nhiều lần, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh chiến lược sản xuất, phân phối và thị trường”, bà Hà cho hay.

Trong nước, vận tải đường bộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhưng chi phí cao, trong khi các phương thức tiết kiệm hơn như đường thủy lại chưa được khai thác hiệu quả do hạn chế về hạ tầng và kết nối. Điều này khiến chi phí logistics khó có thể giảm nhanh trong ngắn hạn.

Đối với TMĐT, TS Nguyễn Thị Hà cho rằng, áp lực còn lớn hơn khi số lượng đơn hàng tăng trưởng theo cấp số nhân. “Hiện nay, thị trường ghi nhận khoảng 8-9 triệu đơn hàng mỗi ngày, tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn. Tần suất giao dịch cao, yêu cầu xử lý nhanh và chính xác khiến logistics trở thành yếu tố quyết định trong cuộc đua cạnh tranh giữa các sàn”, bà Hà phân tích.

Thực tế vận hành đã cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nền tảng. Những sàn có hệ thống logistics nội bộ thường xử lý đơn hàng và đổi trả nhanh hơn đáng kể so với các đơn vị phụ thuộc vào bên thứ ba. Ví dụ, thời gian xử lý đổi trả có thể chỉ mất 1-2 ngày ở hệ thống nội bộ, trong khi có thể kéo dài 4-5 ngày nếu thông qua đối tác. Khoảng cách này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí, mà còn tác động trực tiếp đến trải nghiệm người dùng.

Logistics: “Điểm chạm” chiến lược của thương mại điện tử
Khi thị trường tiếp tục mở rộng, khả năng tự chủ logistics sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh của các sàn TMĐT.

Doanh nghiệp tăng tốc “giữ tiền” qua bài toán logistics

Trong hệ sinh thái TMĐT, giao nhận là khâu duy nhất kết nối trực tiếp giữa nền tảng và người tiêu dùng. Điều đó đồng nghĩa với việc mọi trải nghiệm, từ tốc độ giao hàng, độ chính xác đến thái độ phục vụ đều được quyết định tại đây. Thực tế cho thấy, những năm gần đây, nhờ ứng dụng công nghệ và tự động hóa, thời gian giao hàng nội đô đã được rút ngắn đáng kể, từ 24-48 giờ xuống còn 12-24 giờ. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ, mà còn định hình lại kỳ vọng của người tiêu dùng.

Cùng với đó, các sàn TMĐT đang tăng tốc đầu tư vào logistics như một chiến lược dài hạn. Theo đó, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác, nhiều nền tảng đã chủ động xây dựng hệ thống kho bãi, trung tâm phân loại và mạng lưới giao nhận riêng. Ở một số khu vực, hệ thống nội bộ có thể xử lý tới 50-80% tổng số đơn hàng. Xu hướng này cũng phù hợp với dự báo của Bộ Công Thương khi TMĐT được kỳ vọng đạt quy mô 50-70 tỷ USD vào năm 2030.

Theo Hiệp hội TMĐT Việt Nam, việc xây dựng hệ thống logistics riêng sẽ giúp các sàn đạt được hai lợi ích cốt lõi.

Thứ nhất, các sàn có thể giữ lại nguồn thu từ phí vận chuyển, là khoản doanh thu rất lớn của các sàn nếu xét trên quy mô hàng trăm triệu đơn hàng mỗi năm. Thay vì chia sẻ cho đối tác, khoản tiền này được tái đầu tư vào hệ sinh thái, giúp cải thiện biên lợi nhuận.

Thứ hai, tự chủ logistics cho phép các nền tảng linh hoạt hơn trong việc triển khai các chương trình miễn phí vận chuyển. Khi đó, “free ship” không còn đơn thuần là chi phí marketing, mà trở thành công cụ điều tiết lợi nhuận và kích thích tiêu dùng.

Tuy nhiên, mô hình này cũng tiềm ẩn rủi ro. Logistics là lĩnh vực có chi phí cố định cao, đòi hỏi đầu tư lớn vào hạ tầng và công nghệ. Nếu sản lượng đơn hàng không đủ lớn hoặc thị phần suy giảm, hệ thống có thể trở nên kém hiệu quả, thậm chí buộc phải thu hẹp hoạt động.

Thực tế, thị trường đã ghi nhận những trường hợp hệ thống giao nhận nội bộ từng chiếm tới 85% đơn hàng, nhưng sau đó phải dừng hoạt động chặng cuối khi quy mô không còn đủ để duy trì. Điều này cho thấy bài toán logistics không chỉ nằm ở đầu tư, mà còn phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng duy trì tăng trưởng ổn định.

Điểm đáng chú ý nữa là cạnh tranh trong TMĐT đang dần chuyển từ giá sang chất lượng dịch vụ. Người tiêu dùng ngày càng ít bị thu hút bởi khuyến mãi đơn thuần, mà quan tâm nhiều hơn đến trải nghiệm thực tế: sản phẩm có đúng mô tả hay không, giao hàng có đúng hẹn hay không, và dịch vụ hỗ trợ có kịp thời hay không.

Trong bối cảnh đó, logistics trở thành yếu tố then chốt để xây dựng niềm tin. Hiện đã có khoảng 70% doanh nghiệp logistics tại Việt Nam triển khai ít nhất một giải pháp số, giúp giảm 20-25% chi phí quản lý. Các công nghệ như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa cũng đang dần trở thành tiêu chuẩn trong ngành.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thương mại Việt Nam - Malaysia hướng đến mốc 18 tỷ USD, rộng cửa cho hàng Việt

Thương mại Việt Nam - Malaysia hướng đến mốc 18 tỷ USD, rộng cửa cho hàng Việt

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Malaysia đạt 17,4 tỷ USD sau 9 tháng năm 2026, vượt kết quả của cả năm 2025 và được dự báo có thể vượt 18 tỷ USD trong cả năm 2026. Đà tăng trưởng này mở rộng cơ hội cho hàng Việt tại thị trường Malaysia. Tuy nhiên, để chuyển tiềm năng thành thị phần thực chất, doanh nghiệp cần nâng chất lượng sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn nhập khẩu và chủ động đổi mới phương thức tiếp cận thị trường.
VIFTA mở dư địa cho hàng Việt vào thị trường Israel

VIFTA mở dư địa cho hàng Việt vào thị trường Israel

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) mở dư địa cho hàng hóa Việt Nam vào thị trường Israel, song ưu đãi thuế quan không đủ để chuyển thành đơn hàng. Doanh nghiệp cần phải đáp ứng quy định nhà nhập khẩu, tiêu chuẩn chất lượng, chứng nhận Kosher khi cần và chủ động quản trị rủi ro địa chính trị. Năng lực chuẩn bị sẽ quyết định khả năng khai thác thị trường hiệu quả.
Doanh nghiệp cần thêm nguồn lực để tiến sâu hơn vào thị trường Anh

Doanh nghiệp cần thêm nguồn lực để tiến sâu hơn vào thị trường Anh

Thị trường Anh còn nhiều dư địa để hàng hóa Việt Nam mở rộng thị phần, song khai thác cơ hội từ UKVFTA đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn mà còn có đủ nguồn lực tài chính để đầu tư sản xuất, công nghệ và chuỗi cung ứng. Đây là điều kiện quan trọng để chuyển lợi thế thuế quan thành năng lực cạnh tranh và vị thế bền vững tại thị trường này.
Xuất khẩu có thể cán mốc 600 tỷ USD trong năm 2026

Xuất khẩu có thể cán mốc 600 tỷ USD trong năm 2026

Xuất khẩu tháng 10/2026 đạt 64,67 tỷ USD, đưa kim ngạch 10 tháng tiến sát mốc 500 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2025. Với kết quả này và kim ngạch những tháng gần đây, kim ngạch năm 2026 có thể cán mốc 600 tỷ USD, vượt xa so với mục tiêu 546 đến 550 tỷ USD.
Hà Nội: Xuất khẩu tháng 10 ước đạt 1,91 tỷ USD

Hà Nội: Xuất khẩu tháng 10 ước đạt 1,91 tỷ USD

Theo Thống kê TP. Hà Nội, kim ngạch xuất khẩu tháng 10/2026 của Hà Nội ước đạt 1,91 tỷ USD, tăng 0,5% so với tháng trước và 10,7% so với cùng kỳ.
Việt Nam - EU: Chuyển lợi thế thương mại thành sức bật chuỗi giá trị

Việt Nam - EU: Chuyển lợi thế thương mại thành sức bật chuỗi giá trị

Thương mại Việt Nam - EU tăng trưởng mạnh nhưng dư địa hợp tác không chỉ nằm ở kim ngạch và ưu đãi thuế quan. Khi chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, tiêu chuẩn xanh khắt khe hơn, cần chuyển lợi thế thị trường thành năng lực sản xuất, công nghệ và giá trị gia tăng bền vững.
Xuất khẩu thủy sản tiến gần mục tiêu 12 tỷ USD

Xuất khẩu thủy sản tiến gần mục tiêu 12 tỷ USD

Sau 10 tháng năm 2026, xuất khẩu thủy sản đạt 10,459 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ, tiến gần mục tiêu 12 tỷ USD cả năm. Tuy nhiên, tăng trưởng đang phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc, ASEAN. Doanh nghiệp cần tìm cách vượt rào cản thuế quan từ Mỹ, giữ vững thị trường.
Go Global: Xác định bốn hướng quốc tế hóa

Go Global: Xác định bốn hướng quốc tế hóa

Khi xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, bài toán của doanh nghiệp không chỉ là đơn hàng. Go Global đặt mục tiêu nâng cấp năng lực cạnh tranh, phát triển thương hiệu, tham gia chuỗi giá trị và hiện diện tại nước ngoài, thúc đẩy chuyển đổi từ xuất khẩu đơn thuần sang quốc tế hóa bền vững.
EU thu thêm phí xử lý bưu kiện nhỏ, tăng trách nhiệm của sàn thương mại điện tử

EU thu thêm phí xử lý bưu kiện nhỏ, tăng trách nhiệm của sàn thương mại điện tử

Từ ngày 1/11/2026, các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) áp dụng phí xử lý 2 Euro cho mỗi mặt hàng thuộc diện áp dụng trong các lô hàng nhỏ mua từ ngoại khối. Cùng với thuế nhập khẩu cố định 3 Euro theo nhóm hàng hóa, chính sách mới đặt ra yêu cầu tính lại chi phí và trách nhiệm tuân thủ khi bán hàng trực tuyến vào EU.
Doanh nghiệp xuất khẩu nhựa cần gửi ý kiến chậm nhất ngày 22/11 để đảm bảo quyền lợi

Doanh nghiệp xuất khẩu nhựa cần gửi ý kiến chậm nhất ngày 22/11 để đảm bảo quyền lợi

Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị doanh nghiệp xuất khẩu nhựa PET sang Anh cần gửi ý kiến về kết luận sơ bộ chậm nhất ngày 22/11/2026, trong bối cảnh phía Anh đề xuất áp thuế tự vệ bổ sung 65% đối với lượng hàng vượt hạn ngạch.
Lần đầu tiên xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD

Lần đầu tiên xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD

Trong tháng 10, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam tiếp tục tăng mạnh, đưa kim ngạch 10 tháng năm 2026 lên 499,24 tỷ USD. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu vượt mốc 1.000 tỷ USD, phản ánh quy mô thương mại mở rộng nhanh, song nhập khẩu tăng cao hơn cũng tạo sức ép lên cán cân thương mại.
Khơi thông dòng nguyên liệu, đón làn sóng xuất khẩu xanh

Khơi thông dòng nguyên liệu, đón làn sóng xuất khẩu xanh

Áp lực xanh từ các thị trường nhập khẩu đang buộc doanh nghiệp xuất khẩu phải kiểm soát chặt hơn nguyên liệu và phát thải trong sản xuất. Tuy nhiên, nhiều dòng chất thải công nghiệp vẫn chưa thể quay lại chuỗi sản xuất do vướng định danh, tiêu chuẩn kỹ thuật và đầu ra. Khơi thông nguồn nguyên liệu tái chế vì thế không chỉ giúp giảm chi phí mà còn là điều kiện nâng chuẩn và sức cạnh tranh hàng xuất khẩu.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Chuyển tư duy phát triển dịch vụ logistics sang xây dựng năng lực logistics quốc gia

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Chuyển tư duy phát triển dịch vụ logistics sang xây dựng năng lực logistics quốc gia

Sáng 2/11, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chủ trì buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về định hướng phát triển logistics quốc gia và hạ tầng logistics.
VEFTA: Thuế quan rộng mở, nhưng ưu đãi không tự động

VEFTA: Thuế quan rộng mở, nhưng ưu đãi không tự động

VEFTA tạo thêm dư địa thuế quan cho hàng Việt tại 4 thị trường thành viên là Iceland, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sĩ, nhưng mức thuế thấp không đồng nghĩa hàng hóa tự động vào được các thị trường này. Năng lực chứng minh xuất xứ, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu phát triển bền vững mới là những yếu tố quyết định việc doanh nghiệp có biến cam kết thành đơn hàng hay không.
Cần thêm động lực từ doanh nghiệp nội để xuất khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD

Cần thêm động lực từ doanh nghiệp nội để xuất khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD

Dù kim ngạch xuất nhập khẩu đã vượt 1.001 tỷ USD, khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn chưa khai thác tương xứng tiềm năng thị trường quốc tế. Mở rộng kết nối phân phối, tận dụng thương mại điện tử (TMĐT) xuyên biên giới và nâng cao năng lực logistics được xem là những giải pháp quan trọng để hàng Việt tiếp cận sâu hơn với người tiêu dùng toàn cầu.