![]() |
| Hàng hóa quá cảnh vận chuyển qua cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn). Ảnh: H.Nụ |
Chuyển đổi số toàn diện thủ tục
Việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 46/2020/NĐ-CP không đơn thuần là đợt cập nhật các quy định kỹ thuật, mà là yêu cầu cấp thiết để tái cấu trúc toàn diện hệ sinh thái quản lý hàng hóa quá cảnh của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Điểm bất cập lớn nhất được cộng đồng doanh nghiệp chỉ ra chính là sự lệch pha giữa hạ tầng công nghệ và quy trình thực thi thủ tục hành chính bổ trợ. Trong khi tờ khai hải quan đã được điện tử hóa hoàn toàn, thì nhiều thủ tục liên quan đến đăng ký tài khoản người dùng. Ngoài ra, việc sửa đổi thông tin hay công nhận doanh nghiệp ưu tiên vẫn phải thực hiện qua phương thức gửi thư điện tử thủ công hoặc nộp hồ sơ giấy truyền thống, tạo ra những khoảng trễ không cần thiết trong dòng chảy hàng hóa.
Đối với các doanh nghiệp logistics hoạt động dựa trên tốc độ và độ chính xác, việc duy trì các thao tác này là một nghịch lý trong kỷ nguyên chuyển đổi số. Từ thực tiễn đó, cộng đồng doanh nghiệp hoan nghênh định hướng tại dự thảo Nghị định mới với việc chuyển dịch toàn bộ sang thực hiện trên Hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến của ngành Hải quan (HQ36a).
Tuy nhiên, để sự chuyển dịch này mang tính thực chất, ông Lê Văn Quyến, đại diện Công ty TNHH Yến Quyến kiến nghị, quy trình cần được thiết kế theo hướng tương tác hai chiều trực tuyến toàn trình. Mọi phản hồi hay yêu cầu bổ sung thông tin từ cơ quan Hải quan cần được hiển thị và xử lý ngay trên hệ thống thay vì phải đối soát qua email, bởi việc sử dụng email trong các thủ tục trọng yếu không chỉ tiềm ẩn rủi ro về thất lạc dữ liệu mà còn làm gián đoạn tính liên tục của chuỗi cung ứng.
Hơn thế nữa, ông Lê Văn Quyến đặt kỳ vọng lớn vào việc cắt giảm thành phần hồ sơ dựa trên dữ liệu dùng chung. Bởi theo các báo cáo đánh giá tác động chính sách, việc vẫn yêu cầu nộp các giấy tờ như bản chụp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hay căn cước công dân trong hồ sơ đăng ký tài khoản là những yêu cầu mang nặng tính hình thức, không còn phù hợp với xu thế quản trị hiện đại.
Đại diện doanh nghiệp khẳng định, một khi thông tin đã được liên thông giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan Hải quan cần chủ động khai thác và đối soát thông tin thay vì yêu cầu doanh nghiệp phải chuẩn bị các bản sao giấy tờ này.
Doanh nghiệp không mong muốn tiếp tục đóng vai trò là bên cung cấp thông tin thủ công, mà kỳ vọng nhà nước thực hiện vai trò chủ động khai thác, xác thực dữ liệu từ các hệ thống liên thông để đơn giản hóa quy trình.
Đây chính là cốt lõi của việc chuyển đổi sang mô hình quản lý dựa trên dữ liệu mà Chính phủ đã đề ra, giúp tiết kiệm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi tối đa cho người khai hải quan.
Tối ưu hóa cơ chế vận hành
Bên cạnh những vấn đề về thủ tục, doanh nghiệp logistics dành sự quan tâm sâu sắc đến các rào cản kỹ thuật và chi phí tài chính vốn đang ngăn cản sự phổ cập rộng rãi của Hệ thống ACTS.
Từ thực tế triển khai, cộng đồng doanh nghiệp đã đưa ra những kiến nghị xác đáng để tối ưu hóa công cụ này. Về vấn đề phương thức vận chuyển, quy định hiện hành chỉ cho phép áp dụng đối với hàng nguyên container (FCL), vô hình trung đã thu hẹp không gian tiếp cận của hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn có nhu cầu xuất khẩu linh kiện hoặc hàng hóa quy mô nhỏ.
![]() |
| Công chức hải quan kiểm tra hàng hóa. |
Doanh nghiệp kiến nghị cơ quan Hải quan cần đóng vai trò dẫn dắt, chủ động đề xuất với Ban Thư ký ASEAN cho phép áp dụng cơ chế hàng lẻ (LCL) trong quá cảnh. Việc linh hoạt hóa phương thức đóng hàng không chỉ tối ưu hóa tải trọng phương tiện mà còn là chìa khóa để ACTS trở thành phương thức vận tải phổ thông, phù hợp với đặc thù thương mại của nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
Đối với bài toán về chi phí bảo lãnh, đây được xem là nút thắt tài chính lớn nhất khiến nhiều doanh nghiệp ngần ngại tham gia hệ thống. Theo các báo cáo, mức phí dịch vụ bảo lãnh quốc tế hiện tại kết hợp với tỷ lệ ký quỹ ngân hàng nghiêm ngặt đang tạo ra áp lực vốn rất lớn cho các đơn vị vận tải, làm giảm khả năng cạnh tranh so với các hình thức quá cảnh truyền thống.
Bà Võ Thị Quỳnh Như, đại diện Công ty xuất nhập khẩu thương mại và dịch vụ Hà An (có trụ sở tại Hà Tĩnh) đề xuất, cơ quan quản lý cần đàm phán mạnh mẽ trong khối ASEAN để thiết lập cơ chế công nhận lẫn nhau về bảo lãnh hải quan, thay vì bắt buộc ký quỹ riêng lẻ tại từng quốc gia thành viên.
Đồng thời, kiến nghị áp dụng khung chiết khấu rủi ro dựa trên lịch sử tuân thủ pháp luật, cho phép các đơn vị có uy tín sử dụng hạn mức bảo lãnh chung thay vì phải thực hiện ký quỹ cho từng lô hàng đơn lẻ, qua đó giảm chi phí vốn và tăng tính linh hoạt cho chuỗi cung ứng.
Sự cộng hưởng giữa quyết tâm cải cách thể chế của cơ quan quản lý và những phản biện sát sườn từ phía doanh nghiệp chính là yếu tố quyết định. Đây là tiền đề để ACTS không chỉ dừng lại ở một quy trình kỹ thuật, mà thực sự trở thành công cụ đắc lực, giúp nâng tầm vị thế của ngành logistics Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc để hội nhập sâu rộng và lưu thông hàng hóa liền mạch trong mạng lưới cung ứng toàn cầu.
| Để giải quyết triệt để những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn vận hành thủ tục hải quan quá cảnh thời gian qua, dự thảo sửa đổi Nghị định số 46/2020/NĐ-CP đang được Bộ Tài chính thiết kế với trọng tâm bãi bỏ hoàn toàn hồ sơ giấy, liên thông dữ liệu quốc gia và chuẩn hóa thẩm quyền theo mô hình hải quan 3 cấp. Đây là bệ phóng pháp lý quan trọng nhằm cắt giảm 30% chi phí tuân thủ, dọn đường cho cộng đồng doanh nghiệp hội nhập sâu vào hệ thống quá cảnh ACTS thế hệ mới. |