![]() |
| Vấn nạn buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng gia tăng trên môi trường số. Ảnh minh họa. |
Thưa ông, thời gian gần đây, liên tiếp các vụ sản xuất, buôn bán hàng giả quy mô lớn bị phát hiện. Ông nhìn nhận như thế nào về thực trạng hàng giả và buôn lậu trên môi trường số hiện nay?
| Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, lực lượng chức năng đã bắt giữ, xử lý gần 44.000 vụ việc liên quan buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; khởi tố hình sự 1.464 vụ án với hơn 2.200 đối tượng. Những con số này cho thấy áp lực kiểm soát trên môi trường TMĐT đang ngày càng lớn. |
Có thể thấy, hàng giả hiện nay không còn xuất hiện theo kiểu nhỏ lẻ như trước mà đã hình thành những chuỗi hoạt động có tổ chức, tận dụng rất mạnh môi trường TMĐT và mạng xã hội để tiêu thụ hàng hóa vi phạm.
Điều đáng lo ngại là hàng giả đang len lỏi vào nhiều nhóm hàng thiết yếu như: mỹ phẩm, thực phẩm, gia vị, hàng tiêu dùng hằng ngày. Các đối tượng không chỉ làm giả bao bì, nhãn hiệu mà còn sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, tiềm ẩn nguy cơ trực tiếp đối với sức khỏe người tiêu dùng.
Thực tế thời gian qua cho thấy nhiều vụ việc có quy mô rất lớn. Có những “công xưởng” sản xuất mỹ phẩm giả bị phát hiện với hàng chục nghìn sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng. Nhiều đường dây bán hàng giả trên không gian mạng cũng bị bóc gỡ với giá trị hàng hóa lên tới hàng chục tỷ đồng.
Đáng chú ý, phương thức hoạt động đã thay đổi rất nhanh. Nếu trước đây hàng giả chủ yếu tiêu thụ qua chợ truyền thống hoặc đại lý nhỏ lẻ thì nay các đối tượng tận dụng livestream, tài khoản ảo, quảng cáo trên nền tảng số, dịch vụ chuyển phát nhanh và trung gian thanh toán để giao dịch.
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, lực lượng chức năng đã bắt giữ, xử lý gần 44.000 vụ việc liên quan buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; khởi tố hình sự 1.464 vụ án với hơn 2.200 đối tượng. Những con số này cho thấy áp lực kiểm soát trên môi trường TMĐT đang ngày càng lớn.
Đáng nói là nhiều đối tượng hiện nay có thể nhanh chóng tạo tài khoản mới, xóa dấu vết giao dịch hoặc hoạt động xuyên biên giới, khiến việc truy vết gặp nhiều khó khăn hơn trước rất nhiều.
Theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất trong công tác kiểm soát hàng giả, hàng nhái và hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ trên môi trường TMĐT hiện nay?
Hiện nay, hệ thống pháp luật liên quan đến phòng, chống hàng giả trong TMĐT đã từng bước được hoàn thiện, với các nền tảng pháp lý quan trọng như: Luật TMĐT, Luật Sở hữu trí tuệ, Nghị định số 98/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, cùng các văn bản hướng dẫn về quản lý sàn giao dịch TMĐT, trách nhiệm của chủ thể tham gia kinh doanh trên môi trường số.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn nhiều điểm nghẽn.
Thứ nhất, cơ chế quản lý hiện nay vẫn chủ yếu theo hướng “hậu kiểm”, tức là xử lý sau khi hành vi vi phạm đã xảy ra. Trong khi đó, môi trường TMĐT có tốc độ phát sinh giao dịch rất lớn, phương thức hoạt động liên tục thay đổi, khiến việc phát hiện và ngăn chặn hàng giả theo cách truyền thống gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng tăng cường trách nhiệm kiểm soát chủ động của các sàn TMĐT, ứng dụng công nghệ để nhận diện và cảnh báo sớm hành vi vi phạm.
![]() |
| Ông Nguyễn Đăng Sinh, Chủ tịch Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam. |
Thứ hai, trách nhiệm của các nền tảng TMĐT trong việc kiểm soát người bán và hàng hóa chưa thực sự tương xứng với quy mô phát triển của thị trường số.
Dù pháp luật và các nghị định hướng dẫn đã quy định trách nhiệm lưu trữ thông tin người bán, gỡ bỏ sản phẩm vi phạm, phối hợp với cơ quan chức năng nhưng trên thực tế việc xác minh nguồn gốc hàng hóa, kiểm duyệt gian hàng hay cung cấp dữ liệu phục vụ điều tra ở một số trường hợp vẫn còn hạn chế.
Thứ ba, công tác chia sẻ và kết nối dữ liệu giữa các lực lượng chức năng như: quản lý thị trường, công an, hải quan, bộ đội biên phòng còn chưa đồng bộ. Trong khi đó, các đối tượng vi phạm ngày càng sử dụng thủ đoạn tinh vi, hoạt động liên tỉnh, xuyên biên giới và lợi dụng tính ẩn danh trên môi trường mạng để che giấu hành vi.
Một khó khăn đáng chú ý khác là nhiều nền tảng số, mạng xã hội và sàn TMĐT xuyên biên giới chưa có hiện diện pháp lý đầy đủ tại Việt Nam hoặc chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định pháp luật Việt Nam. Điều này gây khó khăn cho việc xác minh danh tính người bán, thu thập chứng cứ điện tử và xử lý vi phạm.
Do đó, cần triển khai các điều khoản đã được quy định tại Luật TMĐT và các văn bản hướng dẫn; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả hơn, đồng thời tăng trách nhiệm pháp lý của các nền tảng số trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý hàng giả, hàng nhái trên môi trường trực tuyến.
Nhiều ý kiến cho rằng, cần xây dựng một “lá chắn” công nghệ đủ mạnh để kiểm soát hàng giả trên không gian mạng. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
Tôi cho rằng, công nghệ đang trở thành yêu cầu bắt buộc trong công tác chống hàng giả hiện nay.
Những giải pháp như truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, tem chống giả điện tử hay ứng dụng blockchain là các hướng đi cần thiết. Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự hiệu quả khi có cơ chế vận hành đồng bộ và sự phối hợp rõ trách nhiệm giữa các bên.
Tôi vẫn nhấn mạnh quan điểm: Doanh nghiệp phải chủ động bảo vệ thương hiệu, người tiêu dùng cần thay đổi hành vi, và các nền tảng phải có trách nhiệm kiểm soát.
Doanh nghiệp cần minh bạch thông tin sản phẩm, đầu tư hệ thống truy xuất nguồn gốc và chủ động phối hợp với cơ quan chức năng khi phát hiện vi phạm.
Về phía người tiêu dùng, cần ưu tiên mua hàng tại các kênh phân phối chính hãng, không nên chạy theo giá rẻ bất thường hoặc các quảng cáo thiếu kiểm chứng trên livestream, mạng xã hội.
Riêng với các sàn TMĐT, theo tôi cần tăng trách nhiệm trong khâu xác thực người bán, kiểm duyệt hàng hóa và xử lý phản ánh vi phạm. Đây là vấn đề rất quan trọng, bởi TMĐT hiện không chỉ là môi trường kinh doanh mà còn là không gian tiêu dùng của hàng triệu người dân.
Trước diễn biến ngày càng phức tạp của buôn lậu và hàng giả trên môi trường số, theo ông cần ưu tiên điều gì trong thời gian tới?
Điều quan trọng nhất là phải chuyển từ tư duy xử lý sang tư duy phòng ngừa chủ động.
Trong bối cảnh TMĐT phát triển rất nhanh, pháp luật cần đi trước một bước, công nghệ phải giữ vai trò trung tâm và dữ liệu cần trở thành nền tảng quản trị.
Cùng với đó, trách nhiệm người đứng đầu trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả cũng cần được đề cao hơn. Những trường hợp buông lỏng quản lý hoặc có dấu hiệu tiếp tay cho vi phạm phải được xử lý nghiêm theo quy định.
Tôi cho rằng chống hàng giả không chỉ là bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hay doanh nghiệp. Xa hơn, đây còn là câu chuyện liên quan tới niềm tin thị trường, uy tín hàng hóa Việt Nam và môi trường đầu tư kinh doanh.
Nếu để hàng giả, hàng nhái và hàng không rõ nguồn gốc tiếp tục lan rộng trên không gian mạng, chi phí mà nền kinh tế phải gánh chịu sẽ lớn hơn rất nhiều so với những thiệt hại nhìn thấy trước mắt.
Trong bối cảnh đó, việc nâng cao cảnh giác của người dân, tăng phối hợp liên ngành và hoàn thiện cơ chế kiểm soát trên sàn TMĐT là yêu cầu không thể chậm trễ.
Trân trọng cảm ơn ông!