![]() |
| Việc rút ngắn xuống còn 5 năm nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa quyền khai bổ sung của người nộp thuế với yêu cầu phục vụ công tác điều tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế. |
Minh bạch hơn quyền khai bổ sung sau thanh tra, kiểm tra
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định số 252/2026/NĐ-CP là sửa đổi quy định về khai bổ sung hồ sơ khai thuế tại Điều 12.
Trong văn bản giới thiệu điểm mới của Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, Cục Thuế cho biết, các quy định mới được xây dựng trên cơ sở tổng kết những bất cập trong quá trình thực hiện thời gian qua, nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế.
Điểm mới đầu tiên là bổ sung quy định cụ thể về trường hợp không chấp nhận hồ sơ khai bổ sung theo đề nghị của cơ quan điều tra.
Theo đó, khi gửi văn bản đề nghị cơ quan Thuế không tiếp nhận hồ sơ khai bổ sung, cơ quan điều tra phải nêu rõ các thông tin làm căn cứ xác định như tên người nộp thuế, mã số thuế, loại thuế, kỳ tính thuế và thời gian áp dụng.
Trường hợp văn bản không xác định rõ thời gian áp dụng thì yêu cầu này chỉ chấm dứt khi cơ quan điều tra có văn bản kết thúc.
Đáng chú ý, việc hạn chế khai bổ sung chỉ áp dụng đối với các trường hợp người nộp thuế đang bị điều tra về hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế hoặc đã có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Quy định này vừa tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho cơ quan quản lý, vừa tránh việc áp dụng tùy nghi trong thực tiễn.
Một nội dung quan trọng khác là quy định cụ thể việc điều chỉnh hồ sơ khai thuế đối với các kỳ đã được thanh tra, kiểm tra. Theo đó, người nộp thuế vẫn có thể đề nghị điều chỉnh thông qua hồ sơ giải trình. Cơ quan Thuế sẽ xem xét, rà soát và thông báo chấp nhận hoặc không chấp nhận nội dung điều chỉnh.
Tuy nhiên, việc điều chỉnh chỉ được thực hiện đối với những nội dung chưa được xử lý trong kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc quyết định xử lý đã ban hành và không làm thay đổi hiệu lực của các kết luận, quyết định đó.
Trường hợp phát hiện vi phạm, người nộp thuế vẫn bị xử lý và xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định như đối với trường hợp được phát hiện qua thanh tra, kiểm tra.
Quy định này vừa bảo đảm quyền được khắc phục sai sót của người nộp thuế, vừa giữ vững tính ổn định và hiệu lực của các quyết định quản lý nhà nước đã ban hành.
Nghị định số 252/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ 2 trường hợp người nộp thuế phải khai bổ sung theo kết luận hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trường hợp thứ nhất là khi có kết luận, quyết định liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế nhưng không thuộc trường hợp xử lý sau thanh tra, kiểm tra. Nếu việc khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp hoặc làm giảm số thuế được khấu trừ, miễn, giảm, hoàn hoặc giảm lỗ, thì người nộp thuế phải thực hiện khai bổ sung.
Trường hợp thứ hai là khi cơ quan điều tra, tòa án, kiểm toán nhà nước, cơ quan thanh tra hoặc cơ quan Thuế kết luận người bán sử dụng hóa đơn không hợp pháp, người mua sử dụng các hóa đơn thuộc phạm vi kết luận, thì người mua phải thực hiện khai bổ sung để điều chỉnh nghĩa vụ thuế, kể cả đối với các kỳ đã được thanh tra, kiểm tra.
Hoàn thiện cơ chế khai bổ sung, giảm vướng mắc trong thực tiễn
Ngoài việc làm rõ các trường hợp được và không được khai bổ sung, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP còn hoàn thiện cơ chế xử lý đối với nhiều tình huống phát sinh trong thực tế.
Theo quy định mới, người nộp thuế thực hiện khai bổ sung đối với đúng kỳ tính thuế phát sinh sai sót. Riêng trường hợp sai sót liên quan đến số thuế giá trị gia tăng đầu vào thì việc kê khai được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng. Cách quy định này giúp thống nhất phương thức xử lý, hạn chế cách hiểu khác nhau giữa các địa phương.
Một điểm đáng chú ý khác là thay đổi thời hạn được khai bổ sung hồ sơ khai thuế. Theo quy định mới, nếu người nộp thuế chưa bị thanh tra, kiểm tra hoặc nội dung sai sót không thuộc phạm vi thanh tra, kiểm tra nhưng hồ sơ khai thuế đã quá thời hạn 5 năm kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ thì sẽ không được khai bổ sung.
Tuy nhiên, trong trường hợp này, người nộp thuế vẫn được quyền giải trình với cơ quan thuế về những sai sót đã phát hiện. Trước đây, thời hạn khai bổ sung là 10 năm.
Việc rút ngắn xuống còn 5 năm nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa quyền khai bổ sung của người nộp thuế với yêu cầu phục vụ công tác điều tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Trước đó tại buổi livestream giới thiệu điểm mới của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, bà Nguyễn Thị Thu Hường, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) cho biết, quy định rút ngắn thời hạn khai bổ sung hồ sơ khai thuế có tác động trực tiếp đến hầu hết người nộp thuế. Việc điều chỉnh này xuất phát từ yêu cầu chuyển đổi số toàn diện trong quản lý thuế. Hiện nay, hầu hết dữ liệu hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử, phần mềm kế toán, phần mềm khai thuế đã được kết nối, giúp người nộp thuế phát hiện sai sót gần như theo thời gian thực.
Trong điều kiện dữ liệu đã được số hóa, việc để sai sót kéo dài trong nhiều năm không còn phù hợp.
Bên cạnh các quy định về khai bổ sung, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi nhiều nội dung liên quan đến thời hạn nộp hồ sơ khai thuế và các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế nhằm đồng bộ với các quy định mới.
Đối với thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo từng lần phát sinh, quy định mới xác định thời hạn là ngày thứ 10 kể từ ngày tiếp theo ngày phát sinh nghĩa vụ thuế. Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế cũng được điều chỉnh thành ngày cuối cùng của tháng thứ ba kể từ khi kết thúc kỳ quyết toán thuế.
Đồng thời, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP bổ sung hướng dẫn cụ thể về thời hạn khai thuế đối với hoạt động xuất bán khí thiên nhiên và điều chỉnh thời hạn khai thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản để phù hợp với thực tiễn quản lý.
Nghị định số 252/2026/NĐ-CP cũng mở rộng các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế, trong đó có trường hợp bên Việt Nam khấu trừ, nộp thay thuế cho nhà thầu nước ngoài nhưng trong tháng không phát sinh việc khấu trừ; các trường hợp hoàn thuế giá trị gia tăng từ nguồn viện trợ không hoàn lại hoặc ưu đãi miễn trừ ngoại giao; trường hợp cơ quan Thuế đã khai thác đầy đủ thông tin từ cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành để xác định nghĩa vụ thuế.
Việc bổ sung các quy định này góp phần giảm thủ tục hành chính, hạn chế hồ sơ phải nộp không cần thiết, đồng thời tạo điều kiện để cơ quan Thuế đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu số trong quản lý thuế.
Với những quy định này, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tháo gỡ nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật thuế, nâng cao tính minh bạch, thống nhất trong quản lý.