Thứ năm 01/10/2026 13:54
Thời tiết: Hà Nội 35°C
Đà Nẵng 33°C
Cà Mau 31°C
Hải Phòng 33°C
TP Hồ Chí Minh 35°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

“Cởi trói” mã số vùng trồng: Rộng cửa cho xuất khẩu nông sản Việt

Ngô Kiến (Thực hiện)
Việc cắt giảm thành phần hồ sơ, chuyển toàn bộ quy trình lên môi trường số và trao quyền tự kê khai cho tổ chức, cá nhân đang mở ra một cách tiếp cận mới trong quản lý mã số vùng trồng. Theo ông Nguyễn Ngọc Linh, Giám đốc Thương hiệu Easy Export, Chuyên gia Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số, đây không đơn thuần là cải cách thủ tục hành chính mà là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng tính minh bạch và củng cố vị thế của nông sản Việt trên thị trường xuất khẩu.
“Cởi trói” mã số vùng trồng: Rộng cửa cho xuất khẩu nông sản Việt
Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI.

Phóng viên: Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP vừa có hiệu lực đã thay đổi khá mạnh cách thức cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Theo ông, đâu là điểm đáng chú ý của chính sách này?

Ông Nguyễn Ngọc Linh: Tôi cho rằng, điểm đột phá không nằm ở việc cắt giảm giấy tờ, mà ở sự thay đổi tư duy quản lý.

“Cởi trói” mã số vùng trồng: Rộng cửa cho xuất khẩu nông sản Việt

Một điểm mới rất tích cực đó là Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP khuyến khích các tổ chức, hợp tác xã và hộ dân liên kết hình thành vùng nguyên liệu tập trung để được cấp mã số. Doanh nghiệp vì vậy cần đóng vai trò “đầu tàu”, cùng nông dân xây dựng vùng nguyên liệu thay vì chỉ thu mua sản phẩm vào cuối vụ.

Ông Nguyễn Ngọc Linh

Trước đây, khi xin cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói, người dân và doanh nghiệp thường phải chuẩn bị nhiều loại tài liệu, trong đó có bản thuyết minh kỹ thuật khá mất thời gian. Nay, hồ sơ được rút gọn chỉ còn đơn đề nghị theo mẫu, nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia đến UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói.

Điều này đồng nghĩa với việc chi phí tuân thủ được giảm đáng kể. Người sản xuất không còn phải mất nhiều ngày để hoàn thiện hồ sơ giấy trước khi được xem xét.

Quan trọng hơn, Nghị quyết chuyển từ cơ chế “tiền kiểm là chính” sang “hậu kiểm là chính”.

Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân tự kê khai và tự chịu trách nhiệm về thông tin đã khai báo; cơ quan quản lý tập trung kiểm tra sau khi cấp mã, chỉ tiền kiểm khi nước nhập khẩu có yêu cầu.

Theo tôi, đây là cách tiếp cận phù hợp với xu hướng cải cách hành chính hiện nay. Cơ quan quản lý giảm bớt những thủ tục không cần thiết, còn người dân, doanh nghiệp được trao nhiều quyền chủ động hơn nhưng cũng phải nâng cao trách nhiệm.

Phóng viên: Theo ông, quy định mới mang lại lợi ích cụ thể nào, liệu có đáp ứng kỳ vọng rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ của doanh nghiệp xuất khẩu?

Ông Nguyễn Ngọc Linh: Lợi ích có thể nhìn thấy ngay ở ba yếu tố: nhanh hơn, đơn giản hơn và minh bạch hơn. Đó là những cải cách rất thiết thực.

Theo quy định mới, nếu không đăng ký xuất khẩu sang thị trường yêu cầu mã số, thời gian cấp chỉ còn tối đa 3 ngày làm việc. Với những thị trường có yêu cầu về mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói, thời gian giải quyết tối đa là 10 ngày làm việc, bao gồm cả kiểm tra điều kiện kỹ thuật.

Đây là sự thay đổi rất đáng kể nếu đặt trong bối cảnh mùa vụ nông sản diễn ra rất nhanh. Có những mặt hàng chỉ cần chậm vài ngày là doanh nghiệp có thể lỡ đơn hàng hoặc phải điều chỉnh kế hoạch logistics.

Quan trọng hơn, toàn bộ quá trình được thực hiện trên môi trường số. Hồ sơ được tiếp nhận, xử lý và quản lý trực tuyến; dữ liệu mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được quản lý tập trung, công khai trên hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. Điều này giúp doanh nghiệp tra cứu thuận lợi hơn, hạn chế tình trạng hồ sơ đi lòng vòng giữa nhiều cấp như trước.

Không chỉ vậy, trường hợp muốn bổ sung thêm thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp không phải xin mã số mới mà vẫn giữ nguyên mã số đã được cấp. Khi thay đổi tên đơn vị đại diện hoặc điều chỉnh địa giới hành chính, việc cấp lại cũng được giải quyết trong thời hạn chỉ 2 ngày làm việc.

Phóng viên: Việc chuyển mạnh sang hậu kiểm liệu có làm gia tăng rủi ro gian lận hay ảnh hưởng đến uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế không thưa ông?

Ông Nguyễn Ngọc Linh: Đây là điều khiến dư luận băn khoăn, nhưng theo tôi không nên hiểu rằng hậu kiểm là buông lỏng quản lý.

Ngược lại, hậu kiểm chỉ hiệu quả khi trách nhiệm của người kê khai được nâng lên và cơ quan quản lý có hệ thống dữ liệu đủ mạnh để giám sát.

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định rất rõ, việc cấp mã số phải gắn với kiểm tra, giám sát, truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm. Đồng thời, chỉ những trường hợp thị trường nhập khẩu yêu cầu mới thực hiện tiền kiểm.

Có nghĩa là người sản xuất được tạo thuận lợi hơn, nhưng nếu khai không đúng thực tế hoặc không duy trì điều kiện của vùng trồng, cơ sở đóng gói thì vẫn phải chịu trách nhiệm.

Ở góc độ xuất khẩu, mã số vùng trồng không phải là “tấm giấy thông hành” cấp một lần rồi sử dụng mãi mãi. Đó là cam kết về chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và sự tuân thủ các yêu cầu của nước nhập khẩu.

Chúng ta từng chứng kiến không ít trường hợp một vài mã số bị cảnh báo đã ảnh hưởng tới cả ngành hàng. Vì vậy, doanh nghiệp cần xem việc duy trì mã số quan trọng không kém việc được cấp mã số.

Phóng viên: Với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, theo ông, yêu cầu mới cần đặc biệt lưu ý là gì?

Ông Nguyễn Ngọc Linh: Điều đầu tiên theo tôi là doanh nghiệp cần thay đổi tư duy. Doanh nghiệp không nên chỉ quan tâm làm sao để “xin được mã số”, mà phải xây dựng hệ thống quản lý nội bộ đủ tốt để duy trì mã số lâu dài.

Mặc dù hồ sơ được đơn giản hóa, nhưng khi đăng ký xuất khẩu sang thị trường có yêu cầu, nội dung kiểm tra vẫn bao gồm tính chính xác của thông tin kê khai và việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu. Điều đó có nghĩa, hồ sơ ít đi nhưng yêu cầu về chất lượng không hề giảm.

Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào quy trình sản xuất, nhật ký canh tác, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật, quản lý cơ sở đóng gói và đào tạo người lao động.

Một điểm mới rất tích cực đó là Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP khuyến khích các tổ chức, hợp tác xã và hộ dân liên kết hình thành vùng nguyên liệu tập trung để được cấp mã số.

Theo tôi, đây là hướng đi tất yếu. Thị trường xuất khẩu ngày càng yêu cầu sản lượng lớn, chất lượng đồng đều và truy xuất minh bạch. Những vùng sản xuất nhỏ lẻ sẽ rất khó đáp ứng nếu không liên kết.

Doanh nghiệp vì vậy cần đóng vai trò “đầu tàu”, cùng nông dân xây dựng vùng nguyên liệu thay vì chỉ thu mua sản phẩm vào cuối vụ.

Phóng viên: Theo ông, để Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP thực sự phát huy hiệu quả, các bên liên quan cần tập trung vào những giải pháp nào trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Ngọc Linh: Theo tôi, cải cách thủ tục hành chính mới chỉ là điểm khởi đầu. Điều quyết định thành công của Nghị quyết không nằm ở việc cắt giảm bao nhiêu giấy tờ, mà ở cách tổ chức thực hiện trên thực tế.

Xa hơn mục tiêu rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP đang đặt nền móng cho một phương thức quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo hướng hiện đại, minh bạch và số hóa. Nếu được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đây sẽ là động lực quan trọng giúp nông sản Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu và củng cố uy tín trên chuỗi cung ứng toàn cầu.

Để đạt được mục tiêu đó, mỗi chủ thể đều phải thay đổi tư duy và nâng cao trách nhiệm.

Đối với chính quyền địa phương, đặc biệt là UBND cấp xã, đơn vị trực tiếp tiếp nhận và giải quyết hồ sơ, cần nhanh chóng làm chủ quy trình xử lý trên môi trường điện tử, bảo đảm giải quyết thủ tục đúng thời hạn, công khai, minh bạch và thực hiện hậu kiểm khách quan, hiệu quả. Song song với đó là việc cập nhật đầy đủ dữ liệu lên hệ thống để phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc.

Về phía cơ quan quản lý chuyên ngành, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu, tăng cường kết nối với các hệ thống liên quan, đồng thời thường xuyên hướng dẫn, cập nhật cho doanh nghiệp những yêu cầu kỹ thuật mới từ các thị trường nhập khẩu. Đây là yếu tố rất quan trọng để doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong quá trình xuất khẩu.

Riêng đối với doanh nghiệp, có ba yêu cầu mang tính cốt lõi cần chú trọng như:

Thứ nhất, trung thực trong kê khai.

Thứ hai, chuyên nghiệp trong quản trị vùng nguyên liệu và cơ sở đóng gói. xuất nguồn gốc bài bản.

Thứ ba, chủ động cập nhật quy định của thị trường xuất khẩu.

Khi thủ tục hành chính đã được đơn giản hóa, lợi thế sẽ không còn thuộc về doanh nghiệp làm hồ sơ nhanh hơn, mà thuộc về những doanh nghiệp có năng lực quản trị tốt, tuân thủ đầy đủ quy định và biết tận dụng cơ hội để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

“Cởi trói” mã số vùng trồng: Rộng cửa cho xuất khẩu nông sản Việt
Nguồn: Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP; Đồ họa: HB; Infographic có sự hỗ trợ bởi AI.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Doanh nghiệp Việt cần vận dụng thành thạo FTA để vào thị trường Úc

Doanh nghiệp Việt cần vận dụng thành thạo FTA để vào thị trường Úc

Thị trường Úc còn nhiều dư địa cho hàng hóa của Việt Nam khi thị phần hiện mới chiếm khoảng 2,7% tổng quy mô nhập khẩu của nước này. Tuy nhiên, để mở rộng thị phần, doanh nghiệp không chỉ cần nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh, mà còn phải nắm chắc quy định pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, xu hướng tiêu dùng và hệ thống phân phối bản địa.
Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026-2030

Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026-2030

Đề án “Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045” gắn kết với thị trường hàng hóa vật chất và đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, phòng ngừa rủi ro giá của doanh nghiệp.
TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy mô hình xuất khẩu tại chỗ từ trung tâm sản xuất công nghiệp

TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy mô hình xuất khẩu tại chỗ từ trung tâm sản xuất công nghiệp

Hội chợ Hàng Việt Nam tiêu biểu xuất khẩu năm 2026 được định vị là “trung tâm xuất khẩu tại chỗ” của TP. Hồ Chí Minh, kết nối trực tiếp hàng hóa từ nhà máy với các nhà mua hàng, tập đoàn thu mua và hệ thống phân phối quốc tế.
Lạng Sơn duy trì thông quan hàng hóa dịp Quốc khánh Trung Quốc

Lạng Sơn duy trì thông quan hàng hóa dịp Quốc khánh Trung Quốc

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn được duy trì bình thường trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh Trung Quốc từ ngày 1-7/10. Tuy nhiên, việc vận chuyển, giao nhận hàng hóa có thể chậm hơn so với ngày thường.
Dư địa để hàng Việt xuất khẩu vào thị trường CPTPP còn rất lớn

Dư địa để hàng Việt xuất khẩu vào thị trường CPTPP còn rất lớn

Năm 2025, Việt Nam mặc dù xuất khẩu 70,6 tỷ USD hàng hóa sang các nước thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), nhưng chỉ chiếm hơn 1% tổng nhu cầu nhập khẩu của cả khối (khoảng 4.250 tỷ USD). Khoảng cách này cho thấy, dư địa cho hàng Việt còn lớn, song để biến dư địa thành đơn hàng, theo các chuyên gia, doanh nghiệp không chỉ tìm thị trường thay thế mà phải mở rộng mạng lưới khách hàng, nguồn cung và chuỗi sản xuất.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản được kỳ vọng tiếp tục đà tăng trưởng trong quý IV

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản được kỳ vọng tiếp tục đà tăng trưởng trong quý IV

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu ngành nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ, không chỉ phản ánh đà tăng của các ngành hàng chủ lực mà còn tạo nền tảng để hướng tới mục tiêu cả năm, mở ra giai đoạn tăng trưởng mới dựa trên chất lượng, giá trị gia tăng, thương hiệu và chuỗi giá trị bền vững.
Xuất khẩu dệt may tăng tốc dịp cuối năm

Xuất khẩu dệt may tăng tốc dịp cuối năm

Ngành dệt may Việt Nam đang bước vào chặng nước rút của năm 2026 với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động, khả năng thích ứng, nâng sức cạnh tranh và mở rộng chuỗi cung ứng sẽ quyết định dư địa tăng trưởng xuất khẩu của ngành dệt may trong những tháng cuối năm.
Chi gần 10 tỷ USD nhập khẩu ô tô và linh kiện, phụ tùng

Chi gần 10 tỷ USD nhập khẩu ô tô và linh kiện, phụ tùng

Đến ngày 15/9/2026, Việt Nam nhập khẩu hơn 181.000 ô tô nguyên chiếc, tổng kim ngạch 4,17 tỷ USD và 5,35 tỷ USD nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô. Đáng chú ý, cả hai nhóm hàng đều tăng trưởng đáng kể so với cùng kỳ năm trước.
Điều chỉnh quy hoạch KKT cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đến năm 2045

Điều chỉnh quy hoạch KKT cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đến năm 2045

Ngày 25/9, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1855/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung khu kinh tế (KKT) cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đến năm 2045, định hướng phát triển không gian kinh tế cửa khẩu theo hướng hiện đại, đồng bộ, tăng cường kết nối giao thông, thương mại biên giới và logistics.
Miễn một số điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo từ ngày 1/10/2026

Miễn một số điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo từ ngày 1/10/2026

Từ ngày 1/10/2026, thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng được miễn một số điều kiện kinh doanh vốn áp dụng với gạo thông thường. Cùng với việc giảm rào cản gia nhập thị trường, quy định mới đặt trọng tâm vào hậu kiểm, theo dõi nhập khẩu và trách nhiệm bảo đảm nguồn cung trong nước.
Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc để hàng Việt đạt chuẩn yêu cầu xuất khẩu

Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc để hàng Việt đạt chuẩn yêu cầu xuất khẩu

Các chuyên gia tập trung phân tích những yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc và cách chuyển hóa dữ liệu kỹ thuật thành bằng chứng phục vụ báo cáo môi trường, xã hội và quản trị.
Doanh nghiệp lo tăng chi phí vì C/O bản giấy chậm cấp

Doanh nghiệp lo tăng chi phí vì C/O bản giấy chậm cấp

Việc tổ chức lại các phòng quản lý Xuất nhập khẩu nhằm tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, vướng mắc về con dấu trong giai đoạn chuyển tiếp đang khiến quy trình cấp một số mẫu C/O bản giấy phát sinh thêm khâu luân chuyển, làm gia tăng áp lực về thời gian và chi phí đối với doanh nghiệp xuất khẩu.
Tháo gỡ nút thắt để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản cuối năm

Tháo gỡ nút thắt để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản cuối năm

9 tháng năm 2026, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%. Để duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp kiến nghị tháo gỡ các điểm nghẽn về vùng nguyên liệu, tín dụng, truy xuất nguồn gốc và phòng vệ thương mại...
Halal mở ra dư địa lớn cho xuất khẩu hàng hóa Việt Nam

Halal mở ra dư địa lớn cho xuất khẩu hàng hóa Việt Nam

Thị trường Halal mở ra dư địa lớn cho xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, nhưng cơ hội chỉ trở thành tăng trưởng thực chất khi doanh nghiệp đáp ứng đồng thời tiêu chuẩn, quy định từng thị trường và cơ chế kết nối hiệu quả giữa cơ quan quản lý, Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, địa phương với doanh nghiệp để mở rộng thị trường xuất khẩu bền vững.
Xuất khẩu sang Canada tăng tốc nhờ nhóm hàng điện tử và máy móc

Xuất khẩu sang Canada tăng tốc nhờ nhóm hàng điện tử và máy móc

Xuất khẩu sang Canada tiếp tục tăng tốc trong 8 tháng năm 2026, khi nhóm hàng điện tử, máy móc và công nghiệp chế biến trở thành động lực mở rộng thị phần, tạo dư địa nâng giá trị xuất khẩu và củng cố vị thế hàng hóa của Việt Nam tại thị trường Canada.