![]() |
| Ảnh minh họa |
Bộ Tài chính vừa có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Tây Ninh do Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội chuyển đến liên quan đến việc thu tiền để Nhà nước bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa bị mất hoặc nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa.
Theo phản ánh của cử tri, trước đây theo Nghị định số 112/2024/NĐ-CP, cơ quan tài chính là đơn vị thực hiện thông báo thu tiền. Tuy nhiên, từ ngày 15/8/2025, Nghị định số 226/2025/NĐ-CP chuyển trách nhiệm này sang cơ quan Thuế, nhưng chưa quy định mẫu thông báo, thời hạn nộp và mức tiền chậm nộp khi quá hạn. Do đó, cử tri kiến nghị sớm ban hành quy định bổ sung để thống nhất thực hiện.
Trả lời nội dung này, Bộ Tài chính cho biết pháp luật về quản lý thuế, gồm Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, các văn bản hướng dẫn thi hành và Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026), không quy định cơ quan Thuế quản lý thu tiền để Nhà nước bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa bị mất hoặc nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa theo quy định của pháp luật về đất đai.
Bộ Tài chính cho biết thêm, tại điểm g1 khoản 3 Điều 16 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 của Chính phủ đã bãi bỏ quy định về trách nhiệm của cơ quan Thuế trong việc xác định số tiền phải nộp, gửi thông báo số tiền phải nộp và xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp khoản tiền để Nhà nước bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa bị mất hoặc nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa theo Nghị định số 226/2025/NĐ-CP.
Ngoài ra, tại Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP cũng quy định UBND cấp tỉnh có trách nhiệm quy định trình tự, thủ tục hành chính về đất đai, trong đó quy định rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền, thời gian giải quyết, thành phần hồ sơ và các mẫu biểu để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai.
Vì vậy, theo quy định của pháp luật về đất đai hiện hành, việc ban hành mẫu thông báo và thời hạn nộp khoản tiền để Nhà nước bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa bị mất hoặc nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh.
Đối với tiền chậm nộp, Bộ Tài chính cho biết việc thực hiện căn cứ theo khoản 6 Điều 39 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15.