| Dệt may Việt Nam đang tăng tốc để giữ vị thế top 3 thế giới Hàng trăm doanh nghiệp dệt may nước ngoài tìm đối tác tại Việt Nam |
![]() |
| Nguyên liệu ngành dệt may còn phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu. Ảnh: T.H |
Sức ép mới từ thị trường nhập khẩu
Dệt may tiếp tục là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, với kim ngạch năm 2025 đạt khoảng 46 tỷ USD, chiếm gần 12% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và tạo việc làm cho hơn 2,5 triệu lao động. Bước sang năm 2026, với quy mô xuất khẩu duy trì ở ngưỡng gần 50 tỷ USD mỗi năm, ngành vẫn giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế, trong đó TP.HCM là địa bàn trọng yếu về sản xuất, thương mại và điều phối chuỗi cung ứng.
Theo ông Phạm Văn Việt, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Dệt may Thời trang TP.HCM, sau khi mở rộng địa giới hành chính, TP.HCM đang sở hữu lợi thế mới khi trở thành trung tâm công nghiệp, logistics và thương mại lớn của cả nước, hội tụ năng lực sản xuất và quản trị chuỗi cung ứng của toàn vùng Đông Nam Bộ. Đây là nền tảng quan trọng để ngành dệt may Thành phố bước vào chu kỳ tăng trưởng mới.
Tuy nhiên, cơ hội luôn đi kèm áp lực. Từ thực tế hoạt động của doanh nghiệp, ngành dệt may đang đối mặt với nhiều thách thức ngày càng rõ nét.
Trước hết, lợi thế chi phí – vốn từng là “vũ khí cạnh tranh” của dệt may Việt Nam – đang thu hẹp nhanh. Giá đất công nghiệp, chi phí lao động, logistics và năng lượng tại các đô thị lớn liên tục tăng. Hiện chi phí logistics và năng lượng đã chiếm khoảng 8–10% trong cơ cấu giá thành sản phẩm may mặc xuất khẩu, tạo áp lực lớn lên biên lợi nhuận và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu đang thay đổi mạnh. Các thương hiệu quốc tế không còn chỉ đặt hàng theo tiêu chí giá rẻ, mà ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường, giảm phát thải carbon và sử dụng năng lượng tái tạo. Nhiều thị trường lớn như EU và Hoa Kỳ đã yêu cầu nhà cung cấp chứng minh tỷ lệ năng lượng xanh trong quá trình sản xuất.
Trong khi đó, sức ép cạnh tranh từ các quốc gia sản xuất khác ngày càng gay gắt. Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia… đang gia tăng thu hút đơn hàng nhờ chi phí thấp hơn và chuỗi cung ứng tương đối hoàn chỉnh. Điều này buộc doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải tái định vị lợi thế, nếu không muốn bị hụt nhịp trong cuộc đua đơn hàng toàn cầu.
Ba hướng lớn để tăng tốc
Để dệt may TP.HCM đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 2 con số trong giai đoạn tới, theo ông Phạm Văn Việt, ngành cần tập trung vào 3 hướng lớn: đa dạng hóa thị trường, đẩy mạnh đổi mới công nghệ và chủ động nguồn nguyên liệu.
Trước hết, mở rộng thị trường xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết. Hiện nay, xuất khẩu dệt may của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc, chiếm hơn 70% tổng kim ngạch. Sự phụ thuộc này khiến ngành dễ tổn thương khi sức mua tại các thị trường lớn suy giảm hoặc chính sách thương mại thay đổi.
Vì vậy, doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm dư địa tăng trưởng tại các thị trường mới như Trung Đông, Nam Á, Nam Mỹ và châu Phi. Song song đó, thị trường nội địa gần 100 triệu dân cũng là “điểm tựa” quan trọng nếu được khai thác bài bản thông qua phát triển thương hiệu thời trang Việt, hệ thống phân phối hiện đại và chiến lược tiếp cận người tiêu dùng phù hợp.
Hướng đi thứ 2, đổi mới công nghệ, thúc đẩy sản xuất thông minh. Đây là điều kiện then chốt để nâng năng suất, giảm chi phí và gia tăng khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ đối tác quốc tế. Năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam hiện vẫn thấp hơn nhiều quốc gia sản xuất lớn trong khu vực. Do đó, doanh nghiệp cần đẩy mạnh tự động hóa, thiết kế số, quản trị sản xuất bằng dữ liệu, quản lý đơn hàng theo thời gian thực và tối ưu chuỗi cung ứng bằng công nghệ.
![]() |
| Sản xuất xanh đang từ xu hướng trở thành “giấy thông hành bắt buộc” để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu |
Quan trọng hơn, sản xuất xanh đang từ xu hướng trở thành “giấy thông hành bắt buộc” để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhiều nhãn hàng quốc tế đã yêu cầu nhà cung cấp chứng minh tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo, mức phát thải carbon và khả năng tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường. Nếu không đáp ứng được các điều kiện này, doanh nghiệp rất dễ bị loại khỏi chuỗi đơn hàng, dù vẫn còn lợi thế về giá.
Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2025/NĐ-CP về cơ chế mua bán điện trực tiếp được xem là cú hích quan trọng, mở ra cơ hội để doanh nghiệp sản xuất tiếp cận nguồn điện tái tạo. Với vai trò đầu tàu công nghiệp, TP.HCM có thể nghiên cứu thí điểm các khu công nghiệp sử dụng năng lượng tái tạo, nhất là mô hình điện mặt trời áp mái cho nhà xưởng, qua đó giúp doanh nghiệp vừa tiết giảm chi phí dài hạn, vừa đáp ứng yêu cầu xanh từ các thị trường xuất khẩu.
Hướng đi thứ 3, mang tính nền tảng lâu dài, đó là chủ động nguồn nguyên liệu và phát triển chuỗi cung ứng trong nước. Hiện nay, khoảng 65% nguyên phụ liệu dệt may vẫn phải nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc và một số nước châu Á. Sự phụ thuộc này khiến doanh nghiệp bị động về giá, thời gian giao hàng và làm giảm khả năng tận dụng ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do do chưa đáp ứng tốt quy tắc xuất xứ.
Với không gian phát triển mở rộng, TP.HCM có nhiều điều kiện thuận lợi để hình thành chuỗi cung ứng dệt may hoàn chỉnh trong vùng, từ nguyên liệu, dệt – nhuộm đến may mặc, thiết kế và thương mại. Trong đó, TP.HCM có thể giữ vai trò trung tâm thiết kế, thương mại, logistics và điều phối chuỗi cung ứng; còn các khu công nghiệp vệ tinh trong vùng đảm nhiệm sản xuất quy mô lớn, tạo ra hệ sinh thái liên kết hiệu quả hơn cho toàn ngành.
Trong giai đoạn phát triển mới, lợi thế của ngành dệt may không còn nằm ở lao động giá rẻ như trước. Cuộc cạnh tranh hiện nay đã chuyển sang năng lực công nghệ, tốc độ đáp ứng đơn hàng, khả năng thiết kế, vật liệu xanh và mức độ chủ động của chuỗi cung ứng.
Nếu tận dụng tốt lợi thế của TP.HCM mở rộng như một trung tâm công nghiệp – thương mại – logistics của cả nước, đồng thời thực hiện quyết liệt ba hướng đi chiến lược nêu trên, ngành dệt may không chỉ có cơ sở để đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 2 con số, mà còn có thể nâng chất lượng tăng trưởng theo hướng bền vững, giá trị gia tăng cao hơn và ít phụ thuộc hơn vào các biến động bên ngoài.