![]() |
| Việc xác định hàng hóa giả mạo nhãn hiệu phải được thực hiện trên cơ sở xem xét dấu hiệu gắn trên hàng hóa. Ảnh có sự hỗ trợ của AI. |
Cục Sở hữu trí tuệ nhận được Văn bản số 2026/0724/DOC/EUC-MDDSC ngày 24/7/2026 của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) và Tiểu ban Thiết bị y tế và Chẩn đoán kiến nghị tháo gỡ vướng mắc trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu có gắn ký hiệu ®.
Theo nội dung văn bản, EuroCham phản ánh một số cơ quan Hải quan địa phương yêu cầu doanh nghiệp hoàn thành việc bổ sung thông tin về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam trước thời điểm mở tờ khai hải quan. Đồng thời đề nghị cho phép doanh nghiệp thông quan trên cơ sở cam kết hoàn thành việc ghi nhãn trước khi đưa hàng hóa ra lưu thông trên thị trường.
Sau khi nghiên cứu nội dung kiến nghị và các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp có liên quan, Cục Sở hữu trí tuệ trao đổi ý kiến chuyên môn với Cục Hải quan.
Theo đó, liên quan đến việc xác định hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, khoản 2 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu hoặc tem, nhãn chứa dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.
Do đó, chỉ riêng việc hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa có gắn ký hiệu ® trong khi nhãn hiệu tương ứng chưa được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam không đủ căn cứ để kết luận hàng hóa đó là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu.
Việc xác định hàng hóa giả mạo nhãn hiệu phải được thực hiện trên cơ sở xem xét dấu hiệu gắn trên hàng hóa có trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam dùng cho chính mặt hàng đó và việc sử dụng dấu hiệu có được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép hay không.
Liên quan đến việc sử dụng ký hiệu ® đối với nhãn hiệu chưa được bảo hộ tại Việt Nam, khoản 1 Điều 7 Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN quy định, việc sử dụng ký hiệu ® được hiểu là chỉ dẫn về việc nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam.
Trường hợp nhãn hiệu chưa được hoặc không còn được bảo hộ tại Việt Nam mà hàng hóa, bao bì hàng hóa sử dụng ký hiệu ®, gây hiểu sai lệch về tình trạng pháp lý của nhãn hiệu, thì có thể bị xem xét là hành vi chỉ dẫn sai về tình trạng pháp lý bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Trường hợp trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, bao gồm nhãn phụ đối với hàng hóa nhập khẩu, có chỉ dẫn trung thực, rõ ràng về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam thì không bị coi là hành vi vi phạm quy định về chỉ dẫn sai tình trạng pháp lý. Nội dung chỉ dẫn phải phản ánh đúng thực tế, chẳng hạn nhãn hiệu chưa được bảo hộ, đang trong quá trình đăng ký hoặc đã được bảo hộ tại Việt Nam theo văn bằng bảo hộ tương ứng.
Theo khoản 3 Điều 15 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 186/2026/NĐ-CP, cơ quan Hải quan có thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm quy định tại Điều 6 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP trong hoạt động nhập khẩu, quá cảnh và vận chuyển hàng hóa trong địa bàn hoạt động hải quan.
Đối với thủ tục thông quan và biện pháp khắc phục, việc chấp nhận văn bản cam kết, quyết định thông quan, giải phóng hàng, đưa hàng hóa về bảo quản, tạm dừng làm thủ tục hải quan và kiểm tra việc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng lô hàng thuộc thẩm quyền của cơ quan Hải quan trực tiếp làm thủ tục. Việc hướng dẫn áp dụng thống nhất trong toàn ngành thuộc thẩm quyền của Cục Hải quan (Bộ Tài chính). Các nội dung này không thuộc thẩm quyền của Cục Sở hữu trí tuệ.
Trên cơ sở ý kiến chuyên môn nêu trên, Cục Sở hữu trí tuệ đề nghị Cục Hải quan chủ trì xem xét, hướng dẫn và trả lời EuroCham theo thẩm quyền, bảo đảm các nguyên tắc:
Không mặc nhiên xác định hàng hóa là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan chỉ vì hàng hóa có gắn ký hiệu ® trong khi nhãn hiệu tương ứng chưa được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam.
Trường hợp xác định có hành vi chỉ dẫn sai về tình trạng pháp lý bảo hộ, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định và chỉ cho phép hàng hóa lưu thông sau khi việc khắc phục đã hoàn thành, được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra.
Cục Sở hữu trí tuệ sẵn sàng phối hợp với Cục Hải quan trong việc tra cứu, cung cấp thông tin về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu và trao đổi ý kiến chuyên môn đối với các trường hợp cụ thể.