![]() |
| Theo hướng dẫn của cơ quan Thuế, hộ kinh doanh đến cuối năm xác định doanh thu thực tế không vượt ngưỡng 1 tỷ đồng, thì số thuế đã nộp sẽ được hoàn trả. |
Hộ kinh doanh băn khoăn
Chính sách nâng ngưỡng doanh thu không phải chịu thuế từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng/năm được cộng đồng hộ kinh doanh đón nhận tích cực. Không chỉ giúp giảm nghĩa vụ thuế, quy định mới còn tạo thêm dư địa để các hộ kinh doanh nhỏ duy trì hoạt động trong bối cảnh chi phí đầu vào và biến động thị trường gia tăng.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều hộ kinh doanh đã hoàn tất kê khai và nộp thuế quý I/2026 theo quy định cũ, dẫn đến sự lệch pha giữa dữ liệu đã nộp và chính sách mới. Điều này khiến không ít người nộp thuế băn khoăn trong việc xử lý tiếp theo.
Số liệu của cơ quan Thuế cho thấy, tính đến ngày 20/4/2026, cả nước đã có 364.774 hộ kinh doanh nộp thành công Tờ khai 01/CNKD; 32.215 hộ nộp Tờ khai 01/BDS; và 1.335.694 hộ đã nộp thông báo số tài khoản Mẫu 01/BK-STK.
Trường hợp của chị Trần Thị Hạnh tại Hà Nội là ví dụ điển hình. Chị đã kê khai và nộp thuế quý I/2026 theo quy định cũ, trong khi nếu áp dụng ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh của chị thuộc diện không phải kê khai, nộp thuế. Hiện chị Hạnh chưa biết phải điều chỉnh như thế nào?
Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH kế toán thuế và tư vấn Keytas, Nghị định số 141 đã nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế lên 1 tỷ đồng, qua đó các hộ kinh doanh có doanh thu dưới mức này về nguyên tắc không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, ông cũng bày tỏ băn khoăn đối với những trường hợp đã kê khai, nộp thuế theo ngưỡng cũ.
Theo ông, đã phát sinh tình huống một số hộ có doanh thu thực tế dưới 1 tỷ đồng nhưng vẫn kê khai theo diện phải nộp thuế, dẫn đến việc hệ thống quản lý thuế ghi nhận sai bản chất nghĩa vụ. Do hệ thống vận hành dựa trên dữ liệu kê khai, khi hộ kinh doanh đã nộp tờ khai theo phương pháp kê khai định kỳ, sẽ mặc định được xếp vào nhóm phải kê khai theo quý, kéo theo nghĩa vụ ở các kỳ tiếp theo, ngay cả khi doanh thu thực tế không đạt ngưỡng.
Trong khi đó, việc nộp tờ khai bổ sung hay điều chỉnh doanh thu về 0 về mặt kỹ thuật có thể thực hiện, nhưng không làm thay đổi trạng thái đã được ghi nhận trên hệ thống. Ngược lại, nếu không điều chỉnh, hộ kinh doanh vẫn có thể đối mặt với rủi ro bị xác định chậm nộp hồ sơ khai thuế ở các kỳ sau.
Từ góc độ kỹ thuật, ông Tuấn cho rằng, cần ưu tiên xử lý dứt điểm dữ liệu đã kê khai ban đầu để đảm bảo tính nhất quán. Theo đó, việc hủy tờ khai đã nộp là một phương án mang tính kỹ thuật có thể được cân nhắc nhằm đưa trạng thái của hộ kinh doanh về đúng bản chất, từ đó thực hiện lại nghĩa vụ thuế phù hợp với doanh thu thực tế.
Số thuế đã nộp sẽ được bù trừ hoặc hoàn trả
Trước những vướng mắc phát sinh, cơ quan Thuế đã đưa ra các hướng dẫn cụ thể nhằm hỗ trợ người nộp thuế xử lý đúng quy định.
Theo bà Nguyễn Thị Minh Hiền, Phó Trưởng Ban chính sách, thuế quốc tế (Cục Thuế), đối với các hộ kinh doanh có doanh thu dưới 1 tỷ đồng nhưng đã kê khai, nộp thuế theo quy định cũ, có thể thực hiện điều chỉnh tờ khai và xử lý số thuế đã nộp theo quy định hiện hành. Trường hợp đến cuối năm xác định doanh thu thực tế không vượt ngưỡng, số thuế đã nộp sẽ được hoàn trả.
Đối với với hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh có mức doanh thu năm tự xác định từ 500 triệu đồng đến mức 1 tỷ đồng và đã kê khai thuế, thì cơ quan Thuế sẽ hướng dẫn các hộ điều chỉnh tờ khai. Trường hợp cuối năm, tổng doanh thu cả năm chưa đến 1 tỷ đồng thì thực hiện hoàn trả số thuế đã nộp theo Thông tư số 18/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về hồ sơ, thủ tục quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Đây cũng là động lực khuyến khích hộ kinh doanh phát triển trong thời gian tới, nhất là với cá nhân hộ kinh doanh mới ra kinh doanh.
Trong công văn hướng dẫn cơ quan Thuế các địa phương triển khai Nghị định số 141/2026/NĐ-CP, Cục Thuế cũng nêu rõ, trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ 1 tỷ đồng trở xuống mà đã kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Nghị định số 68/2026/ND-CP, thì được xử lý tiền thuế đã nộp theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Trường hợp doanh nghiệp đã tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý I/2026 mà doanh nghiệp dự kiến tổng doanh thu trong kỳ tính thuế từ 1 tỷ đồng trở xuống, thì không phải tạm nộp thuế thu nhập các quý tiếp theo, được bù trừ, hoàn trả, hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách theo quy định của pháp luật về quản lý thuế đối với số thuế nộp thừa.
![]() |
| Nâng ngưỡng miễn thuế lên 1 tỷ đồng góp phần quan trọng hỗ trợ hộ kinh doanh giảm nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước. |
Ngoài ra, trong trường hợp kỳ tính thuế năm 2026 có thời điểm kết thúc sau ngày 1/1/2026 và đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 2 Nghị định số 141/2020/NĐ-CP, doanh nghiệp sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thời gian tính thuế từ ngày 1/1/2026 đến hết kỳ tính thuế năm 2025.
Số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn trong trường hợp này được xác định trên cơ sở tổng số thuế phải nộp của năm 2025, tương ứng với số tháng của kỳ tính thuế năm 2025 thuộc năm dương lịch 2026. Đối với doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2025, việc xác định số thuế được miễn sẽ căn cứ vào nghĩa vụ thuế của năm 2025 và thời gian hoạt động thực tế.
Từ kỳ tính thuế năm 2026, việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 141/2026/NĐ-CP.
Tổng doanh thu làm căn cứ xác định đối tượng miễn thuế bao gồm toàn bộ doanh thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ, doanh thu tài chính và thu nhập khác, không bao gồm các khoản giảm trừ. Với doanh nghiệp có thời gian hoạt động dưới 12 tháng, doanh thu sẽ được quy đổi theo số tháng hoạt động thực tế.
Đối với doanh nghiệp mới thành lập, nếu dự kiến doanh thu không quá 1 tỷ đồng, sẽ không phải tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi kết thúc kỳ tính thuế, nếu doanh thu thực tế vượt ngưỡng, doanh nghiệp phải thực hiện kê khai, quyết toán theo quy định mà không bị tính tiền chậm nộp.
Một điểm cần lưu ý là chính sách miễn thuế không áp dụng đối với doanh nghiệp có quan hệ liên kết mà không đáp ứng điều kiện. Điều này nhằm tránh việc lợi dụng cấu trúc doanh nghiệp để hưởng ưu đãi thuế không đúng bản chất.
Bên cạnh đó, các điều khoản chuyển tiếp cũng được quy định rõ. Trường hợp hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp đã nộp thuế theo quy định cũ nhưng thuộc diện được miễn theo chính sách mới, sẽ được xử lý số thuế đã nộp theo quy định hiện hành, bao gồm bù trừ hoặc hoàn trả.
Việc xử lý trong giai đoạn chuyển tiếp vì vậy đòi hỏi người nộp thuế vừa tuân thủ hướng dẫn của cơ quan thuế, vừa đảm bảo dữ liệu kê khai phản ánh đúng bản chất hoạt động kinh doanh, nhằm hạn chế rủi ro và đảm bảo tính nhất quán trong quản lý.