![]() |
| Các chuyên gia cho rằng, chính sách thuế cần chuyển từ vai trò chủ yếu là công cụ huy động nguồn thu sang trở thành động lực thúc đẩy đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. |
Chính sách thuế chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo động lực tăng trưởng
Trong 6 tháng đầu năm 2026, nền kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực với GDP ước tăng 8,18%. Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm theo Nghị quyết số 168/NQ-CP đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách tài khóa, tiền tệ, đầu tư công, phát triển doanh nghiệp và cải cách thể chế.
Theo GS.TS Lê Văn Lợi, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, ổn định kinh tế vĩ mô mới là điều kiện cần, còn năng lực tăng trưởng thực chất phải được tạo ra từ doanh nghiệp, từng ngành, từng địa phương và từng dự án đầu tư.
Vì vậy, cùng với việc tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô, cần đẩy mạnh cải cách vi mô theo hướng tháo gỡ các điểm nghẽn về chi phí, tiếp cận nguồn lực và đổi mới sáng tạo; đồng thời hoàn thiện cơ chế khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ, phát triển thị trường dữ liệu và tạo điều kiện để các mô hình kinh doanh mới được thử nghiệm.
Ở góc độ chính sách thuế, chuyên gia Nguyễn Văn Phụng cho rằng, để duy trì mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới, cần nhìn nhận chính sách thuế không chỉ với chức năng huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mà còn là một bộ phận quan trọng của chính sách phát triển.
Thông qua việc tác động đến tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, đổi mới công nghệ và quyết định phân bổ nguồn lực, chính sách thuế có thể hỗ trợ tổng cầu trong ngắn hạn, đồng thời góp phần mở rộng năng lực sản xuất và nâng cao năng suất của nền kinh tế trong trung và dài hạn.
Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 đặt ra bốn mục tiêu lớn là mở rộng cơ sở thuế, giảm mức động viên hợp lý, tăng cường minh bạch, liên thông và thúc đẩy chuyển đổi số.
Sau hơn 4 năm triển khai, hệ thống chính sách thuế tiếp tục được hoàn thiện theo hướng mở rộng cơ sở thu, bao quát các nguồn thu mới, phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế; đồng thời khuyến khích đầu tư, nghiên cứu, đổi mới công nghệ và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn cho doanh nghiệp.
Cùng với hoàn thiện thể chế, công tác quản lý thuế cũng được hiện đại hóa thông qua cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý theo phương pháp quản trị rủi ro, góp phần giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.
Những kết quả tích cực trong triển khai Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 cho thấy nền tảng quan trọng để tiếp tục đổi mới chính sách thuế trong giai đoạn phát triển mới.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Phụng, khi nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng cao hơn, vai trò của chính sách thuế cũng cần được mở rộng.
Thuế không chỉ hướng tới bảo đảm nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước mà còn phải góp phần tạo động lực cho đầu tư, nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khuyến khích khu vực doanh nghiệp phát triển.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra khi Việt Nam từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào lao động chi phí thấp và gia công, lắp ráp sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao.
![]() |
| Chuyên gia Nguyễn Văn Phụng cho rằng, để duy trì mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới, cần nhìn nhận chính sách thuế không chỉ với chức năng huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mà còn là một bộ phận quan trọng của chính sách phát triển. |
Hướng vào năng suất, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, chính sách thuế cần được hoạch định trên cơ sở vừa tận dụng cơ hội tăng trưởng, vừa chủ động ứng phó với những biến động của kinh tế thế giới.
Chính sách thuế cần phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và đầu tư công, bảo đảm hỗ trợ tăng trưởng nhưng không làm gia tăng mất cân đối vĩ mô hay ảnh hưởng đến tính bền vững của tài khóa quốc gia.
Một điểm đáng chú ý được ông Nguyễn Văn Phụng nhấn mạnh là yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng đang làm thay đổi cách thức sử dụng công cụ thuế. Nếu trước đây ưu đãi thuế chủ yếu được thiết kế theo địa bàn, lĩnh vực hoặc quy mô vốn đầu tư thì trong giai đoạn tới, trọng tâm cần chuyển sang khuyến khích các hoạt động tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao.
Theo đó, chính sách thuế cần ưu tiên hỗ trợ nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển doanh nghiệp trong nước và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với chuỗi giá trị toàn cầu.
Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng và chủ trương phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh đó, cùng với việc điều chỉnh định hướng ưu đãi, việc thiết kế chính sách thuế cần bảo đảm tính hiệu quả và kỷ luật tài khóa. Mỗi chính sách miễn, giảm hoặc ưu đãi thuế phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, lượng hóa đầy đủ tác động đến ngân sách nhà nước cũng như hiệu quả kinh tế - xã hội mang lại.
Việc đánh giá cần được thực hiện trong toàn bộ vòng đời của chính sách để có cơ sở điều chỉnh, hoàn thiện hoặc kết thúc khi không còn phù hợp.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh kết quả thu ngân sách đạt tích cực, điều quan trọng không phải là mở rộng ưu đãi thuế theo diện rộng mà là sử dụng hiệu quả dư địa chính sách để tạo thêm năng lực sản xuất, khuyến khích đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Bên cạnh đổi mới chính sách cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hiện đại hóa công tác quản lý thuế theo hướng lấy người nộp thuế làm trung tâm.
Theo đó, chuyển đổi số trong lĩnh vực thuế không chỉ dừng ở việc điện tử hóa các thủ tục hành chính mà cần chuyển sang mô hình quản lý dựa trên dữ liệu, khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu dùng chung của Nhà nước để giảm số lần kê khai, hạn chế việc người nộp thuế phải cung cấp lặp lại thông tin đã có.
Theo vị chuyên gia này, kết quả của quá trình hiện đại hóa quản lý thuế cần được đo bằng mức giảm thời gian, chi phí tuân thủ, nâng cao chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người nộp thuế.
Ở góc độ cộng đồng doanh nghiệp, ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chia sẻ, những cải cách thể chế và chính sách hỗ trợ thời gian qua, đặc biệt là Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đã tạo thêm động lực cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp không ít khó khăn trong tiếp cận các nguồn lực phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó, chi phí tuân thủ vẫn là áp lực đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ khi nhiều quy định mới về thuế, môi trường hay chuyển đổi số đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải trực tiếp thực hiện, trong khi doanh nghiệp lớn đã có bộ máy chuyên trách.
Đại diện doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đề xuất, cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn sang tư duy kiến tạo năng lực phát triển.
Chính sách hỗ trợ cần tập trung nhiều hơn vào nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và phát triển nguồn nhân lực, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.