![]() |
| Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH tư vấn và kế toán thuế Trọng Tín. |
Không chỉ là khai khống chi phí, mà bản chất là sử dụng trái phép thông tin cá nhân
Hiện nay tình trạng người lao động bị khai khống thu nhập trong khi không làm việc thực tế tại doanh nghiệp vẫn diễn ra. Theo ông, điều này xuất phát từ những nguyên nhân nào?
Trước hết, cần nhìn nhận vấn đề trong bối cảnh các quy định về bảo hiểm xã hội ở một số giai đoạn trước đây, khi pháp luật cho phép người lao động trong thời gian thử việc hoặc làm việc dưới 3 tháng chưa thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội. Quy định này, về mặt lý thuyết, nhằm tạo sự linh hoạt cho thị trường lao động, tuy nhiên trong thực tiễn có thể phát sinh những cách thức áp dụng chưa phù hợp ở một số trường hợp.
Theo đó, có tình huống doanh nghiệp sử dụng lao động ngắn hạn hoặc phát sinh việc ghi nhận thông tin lao động chưa phản ánh đầy đủ thực tế. Điều này có thể dẫn đến việc chi phí tiền lương được kê khai chưa sát với thực tế hoạt động, đồng thời ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Ở góc độ quản lý, mặc dù đã có sự kết nối giữa cơ quan Thuế và cơ quan bảo hiểm xã hội, nhưng trong quá trình triển khai vẫn còn dư địa để tiếp tục hoàn thiện, đặc biệt trong việc chia sẻ và đối soát dữ liệu. Trong một số trường hợp, việc cập nhật thông tin chưa kịp thời có thể dẫn đến phát sinh sai lệch nhất định.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh chuyển đổi số, rủi ro liên quan đến bảo mật và sử dụng dữ liệu cá nhân cũng đặt ra yêu cầu cao hơn. Một số thông tin như mã số thuế, căn cước công dân nếu không được quản lý chặt chẽ có thể bị sử dụng chưa đúng mục đích, từ đó dẫn đến việc phát sinh các thông tin thu nhập chưa chính xác trên hệ thống.
Mặt khác, trong một số trường hợp người sử dụng lao động đã tự khai khống tang thu nhập của người nộp thuế nhưng chưa đến mức phải nộp thuế tại đơn vị nhưng khi tổng hợp thu nhâp ở tất cả các nơi của người nộp thuế thị lại tang số thuế phải nộp hoặc có thể vẫn chưa phải nộp thuế.
Như vậy, có thể thấy rằng vấn đề này không chỉ là câu chuyện khai khống chi phí, mà bản chất là việc sử dụng trái phép thông tin cá nhân để phục vụ mục đích trốn thuế và né tránh nghĩa vụ bảo hiểm.
Người lao động có thể phải thực hiện nghĩa vụ thuế trên khoản thu nhập không tồn tại
Vậy, hệ quả cụ thể mà người lao động phải đối mặt khi bị sử dụng thông tin trái phép là gì, thưa ông?
Trước hết, cần khẳng định bất cứ điều gì không có thật nhưng lại được ghi nhận trong hệ thống pháp lý thì sớm hay muộn cũng sẽ phát sinh hệ quả, và những hệ quả đó thường rơi vào chính người bị “gắn” thông tin.
Rủi ro đầu tiên là nghĩa vụ thuế. Theo quy định, khi cá nhân có từ 2 nguồn thu nhập trở lên thì phải thực hiện quyết toán thuế Thu nhập cá nhân. Trong khi đó, trên thực tế họ chỉ có một nguồn thu nhập, hoặc 2 nguồn thu nhập nhưng vẫn chưa phải nộp thuế. Tuy nhiên, do bị doanh nghiệp sử dụng thông tin để khai báo thêm thu nhập, nên dữ liệu của cơ quan Thuế ghi nhận họ là người có nhiều nguồn thu nhập hoặc có thu nhập đến ngưỡng phải nộp bổ sung thuế.
Điều này dẫn đến việc cá nhân buộc phải thực hiện quyết toán thuế. Nếu không thực hiện, có thể bị xem là vi phạm nghĩa vụ thuế và bị xử lý theo quy định, dù thực tế họ không hề phát sinh khoản thu nhập đó.
Không dừng lại ở đó, khi thực hiện kê khai hoặc hoàn thuế, cá nhân phải tổng hợp toàn bộ các khoản thu nhập đã được ghi nhận, bao gồm cả khoản thu nhập không có thật. Điều này có thể dẫn đến việc cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với khoản thu nhập mà mình không hề nhận hoặc cá nhân phải xử lý xong khoản thu nhập bị khai khống.
Trong bối cảnh thuế Thu nhập cá nhân áp dụng theo biểu lũy tiến từng phần, việc bị “cộng thêm” thu nhập có thể làm tăng mức thuế suất áp dụng, kéo theo số thuế phải nộp cao hơn so với thực tế.
Nếu cá nhân không kê khai khoản thu nhập bị khai khống, dữ liệu giữa hồ sơ của cá nhân và cơ quan Thuế sẽ không khớp, dẫn đến hồ sơ có thể bị từ chối hoặc yêu cầu giải trình. Khi đó, cá nhân phải thực hiện các thủ tục khiếu nại, xác minh, liên hệ với doanh nghiệp và cơ quan thuế, gây mất thời gian và phát sinh chi phí.
![]() |
| Khi phát hiện có thu nhập không rõ nguồn gốc, cá nhân cần liên hệ với đơn vị được ghi nhận là đã chi trả thu nhập để yêu cầu làm rõ và điều chỉnh. |
Trong trường hợp không phát hiện kịp thời, khoản thu nhập “không có thật” còn có thể dẫn đến việc phát sinh nghĩa vụ thuế và bị ghi nhận là nợ thuế. Khi đó, cá nhân có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định, thậm chí bị tạm hoãn xuất cảnh trong một số trường hợp.
Ngoài các vấn đề về tài chính, việc bị ghi nhận sai lệch nghĩa vụ thuế cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín cá nhân, đặc biệt trong các quan hệ nghề nghiệp và giao dịch tài chính.
Không chỉ dừng lại ở cá nhân, trong một số trường hợp, hệ quả còn lan sang gia đình. Theo quy định, người phụ thuộc nếu có thu nhập vượt mức quy định sẽ không được tính giảm trừ gia cảnh. Nếu bị khai khống thu nhập, các cá nhân này (ví dụ sinh viên…) có thể không còn đủ điều kiện là người phụ thuộc của cha, mẹ, anh, chị em ruột, từ đó làm tăng nghĩa vụ thuế của gia đình.
Mức xử phạt có thể lên đến 10 tỷ đồng, cá nhân liên quan có thể bị phạt tù
Với hành vi này, doanh nghiệp sẽ bị xử lý như thế nào?
Về bản chất, hành vi sử dụng trái phép thông tin cá nhân để lập hồ sơ lao động “khống”, từ đó khai khống chi phí, là hành vi có dấu hiệu trốn thuế. Mục đích là đưa các khoản chi phí không có thật vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm làm giảm số thuế phải nộp.
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp còn có yếu tố né tránh nghĩa vụ bảo hiểm xã hội, khi doanh nghiệp không sử dụng lao động thực tế mà thay thế bằng các cá nhân bị sử dụng thông tin trái phép.
Theo quy định của pháp luật, nếu xử lý ở mức hành chính, doanh nghiệp sẽ bị truy thu toàn bộ số thuế đã trốn và bị xử phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn, tùy theo mức độ vi phạm.
Trong trường hợp số tiền trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên, doanh nghiệp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức phạt đối với pháp nhân thương mại có thể lên đến 10 tỷ đồng, kèm theo các biện pháp như đình chỉ hoạt động trong một thời gian nhất định.
Không chỉ doanh nghiệp, các cá nhân liên quan như giám đốc, kế toán trưởng hoặc người trực tiếp thực hiện hành vi cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, với mức phạt tù từ 2 đến 7 năm, cùng các hình phạt bổ sung theo quy định.
Ngoài ra, nếu có hành vi làm giả hồ sơ, tài liệu hoặc sử dụng tài liệu không hợp pháp, thì tùy theo tính chất và mức độ còn có thể bị xử lý theo các quy định pháp luật khác.
Để tự bảo vệ mình, người lao động cần làm gì?
Thưa ông, khi gặp phải những trường hợp như trên, người lao động cần làm gì để bảo vệ mình?
Để hạn chế rủi ro, trước hết mỗi cá nhân, tổ chức có liên quan cần có ý thức bảo vệ thông tin cá nhân của mình cũng như thông tin dữ liệu cá nhân theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Không nên cung cấp thông tin như căn cước công dân, mã số thuế trong những trường hợp không thực sự cần thiết hoặc cho các đơn vị không rõ rang, đối với các doanh nghiệp cần có các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định.
Bên cạnh đó, cá nhân cần chủ động kiểm tra thông tin thu nhập và nghĩa vụ thuế thông qua các hệ thống của ngành thuế. Việc kiểm tra định kỳ giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời.
Khi phát hiện có thu nhập không rõ nguồn gốc, cần liên hệ với đơn vị được ghi nhận là đã chi trả thu nhập để yêu cầu làm rõ và điều chỉnh. Trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm, có thể gửi phản ánh đến cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền để được hỗ trợ.
Trong những trường hợp phát sinh thiệt hại, cá nhân có thể thực hiện quyền yêu cầu bồi thường theo quy định, bao gồm các chi phí phát sinh hoặc các tổn thất liên quan.
Ở góc độ rộng hơn, việc nâng cao nhận thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của mỗi cá nhân mà còn góp phần hạn chế các hành vi vi phạm trong toàn hệ thống trong đó việc phát giác, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bản thân người nộp thuế mà còn góp phần đẩy lùi vi phạm, tội phạm cũng là quyền và trách nhiệm của mỗi công dân.
Xin trân trọng cảm ơn ông!