![]() |
| Xuất khẩu số sẽ là cơ hội để hàng hóa Việt Nam, đặc biệt với những sản phẩm mang bản sắc địa phương tiếp cận khách hàng quốc tế. Ảnh minh họa. |
Khi đặc sản Việt bước lên sàn số: Cơ hội lớn, áp lực cao
Phóng viên: Luật TMĐT sắp có hiệu lực, trong bối cảnh thị trường phát triển rất nhanh nhưng song hành với đó là những vấn đề cần giải quyết. Ông kỳ vọng điều gì khi Luật này đi vào thực tế?
|
Ông Nguyễn Văn Thành: Điều tôi kỳ vọng lớn nhất là thị trường sẽ có thêm niềm tin. TMĐT dù phát triển trên nền tảng công nghệ thì cuối cùng vẫn là câu chuyện giữa người bán và người mua.
Hiện nay, chỉ với một chiếc điện thoại, người dân ở vùng quê cũng có thể đưa sản phẩm ra nước ngoài. Tuy nhiên, nếu môi trường kinh doanh thiếu minh bạch, thiếu cơ chế bảo vệ rõ ràng thì cả người bán lẫn doanh nghiệp đều e ngại khi tham gia trên môi trường số. Đây cũng là lý do Luật TMĐT (Luật số 122/2025/QH15) đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Khi luật được thực thi hiệu quả, niềm tin sẽ dần được củng cố. Thị trường sẽ xác lập rõ hơn trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia; phát triển theo hướng ổn định, minh bạch và bền vững hơn.
Phóng viên: Phần lớn các nền tảng TMĐT lớn hiện nay đều thuộc doanh nghiệp nước ngoài. Điều đó tạo áp lực ra sao với doanh nghiệp Việt Nam, thưa ông?
Ông Nguyễn Văn Thành: Áp lực là điều có thể nhìn thấy rất rõ. Từ Alibaba, Amazon đến Shopee, nhiều nền tảng lớn hiện nay đều do doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ.
Tuy nhiên, tôi cho rằng đây cũng là động lực để doanh nghiệp Việt thay đổi. Điều quan trọng nhất vẫn là tạo được môi trường cạnh tranh công bằng để doanh nghiệp trong nước có cơ hội phát triển.
Nhà nước có chủ trương, chính sách khuyến khích và nâng cao năng lực cạnh tranh của các nền tảng TMĐT nội địa, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ do người Việt Nam xây dựng. Sự đồng hành này không có nghĩa là ưu ái bằng mọi giá, mà tất cả vẫn phải đảm bảo tính bình đẳng, tuân thủ pháp luật quốc tế và các cam kết thương mại quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Tôi cho rằng, doanh nghiệp Việt không thể mãi bán hàng trên “sân” của người khác. Chúng ta cần nền tảng của riêng mình, hệ sinh thái của riêng mình để chủ động hơn về dữ liệu khách hàng, thương hiệu và chiến lược dài hạn.
Điều tích cực là hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt đã bắt đầu đầu tư nghiêm túc hơn cho nền tảng số, logistics, thanh toán và dịch vụ khách hàng. Đó là tín hiệu rất đáng mừng.
Tận dụng xuất khẩu số để nâng tầm đặc sản Việt Nam
Phóng viên: Xin ông cho biết rõ hơn về những nhóm doanh nghiệp được ưu tiên hỗ trợ?
Ông Nguyễn Văn Thành: Chúng tôi dành nhiều sự quan tâm cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh địa phương, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.
Thực tế có nhiều địa phương làm ra sản phẩm rất tốt, thậm chí là đặc sản nổi tiếng, nhưng người dân vẫn chưa quen với cách bán hàng trên môi trường số.
Thực tế cho thấy, nhiều hợp tác xã và hộ kinh doanh đặc sản địa phương dù sở hữu sản phẩm chất lượng tốt nhưng năng lực thương mại điện tử xuyên biên giới còn rất hạn chế. Các quy trình từ quản trị gian hàng số, tiếp cận khách hàng nước ngoài cho đến việc hoàn thiện thủ tục pháp lý, tiêu chuẩn thị trường xuất khẩu hiện vẫn là những rào cản lớn đối với khu vực kinh tế này.
Đó chính là khoảng trống mà chính sách cần đồng hành. Nhiều người dân vốn chỉ quen sản xuất nên không có điều kiện tiếp cận kỹ năng số, kiến thức pháp luật hay xu hướng tiêu dùng quốc tế. Nếu không được hỗ trợ kịp thời, cơ hội rất dễ bị bỏ lỡ.
Vì vậy, thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ cùng các đơn vị liên quan đẩy mạnh hoạt động đào tạo, hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận TMĐT bài bản hơn. Không chỉ để bán được hàng mà còn để bán đúng quy định, xây dựng uy tín và thương hiệu lâu dài.
Phóng viên: Ông vừa nhắc đến đặc sản địa phương. Theo ông, làm sao để những sản phẩm này có thể đi xa hơn bằng con đường xuất khẩu số?
Ông Nguyễn Văn Thành: Việt Nam có rất nhiều sản phẩm đặc sắc. Mỗi vùng miền đều có một câu chuyện riêng gắn với sản phẩm của mình.
Vậy nhưng, nhiều mặt hàng hiện vẫn đang được xuất đi theo cách rất “thô”. Ví dụ như chè Thái Nguyên. Đây là sản phẩm có chất lượng tốt, không hề thua kém nhiều thương hiệu quốc tế. Tuy nhiên, việc bán trực tiếp xuyên biên giới vẫn còn hạn chế.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã nhập nguyên liệu từ Việt Nam, chế biến lại, đóng gói đẹp hơn, kể câu chuyện thương hiệu tốt hơn rồi bán với giá rất cao. Đây là câu chuyện đang khiến không ít doanh nghiệp, nhà hoạch định chính sách trăn trở.
Vì vậy, mục tiêu hiện nay không chỉ là đưa hàng lên sàn TMĐT. Quan trọng hơn là cần hỗ trợ địa phương xây dựng thương hiệu, nâng chất lượng hình ảnh sản phẩm và kết nối đúng thị trường.
Trong kế hoạch phát triển TMĐT quốc gia, nội dung hỗ trợ doanh nghiệp bán hàng xuyên biên giới đã được định hình khá rõ. Các sản phẩm đặc trưng vùng miền sẽ được hỗ trợ quảng bá, tăng khả năng hiển thị trên nền tảng số và từng bước xây dựng thương hiệu quốc gia.
Tôi cho rằng, xuất khẩu số là cơ hội rất lớn cho hàng Việt, đặc biệt với những sản phẩm mang bản sắc địa phương.
Phóng viên: Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị những gì khi bước vào chuỗi giá trị xuất khẩu số?
Ông Nguyễn Văn Thành: Có lẽ là kiến thức và khả năng thích nghi.
Nhiều người nghĩ bán hàng online xuyên biên giới chỉ cần đưa sản phẩm lên mạng rồi chờ đơn hàng. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản như vậy.
Mỗi thị trường đều có tiêu chuẩn riêng. Có nơi rất khắt khe về truy xuất nguồn gốc. Có nơi lại quan tâm nhiều đến yếu tố xanh, môi trường. Chưa kể sự khác biệt về văn hóa tiêu dùng và thị hiếu khách hàng.
Nếu doanh nghiệp không hiểu thị trường thì rất khó đi đường dài. Vì vậy, bên cạnh chính sách hỗ trợ, chúng tôi cũng đang phối hợp với các chuyên gia, doanh nghiệp và tổ chức liên quan để đào tạo thực chất hơn cho doanh nghiệp Việt. Từ quy định pháp lý, thủ tục xuất khẩu đến kỹ năng tiếp cận khách hàng quốc tế.
Khi hiểu thị trường cần gì, hiểu cách vận hành của TMĐT và tuân thủ đúng quy định, doanh nghiệp sẽ tự tin hơn rất nhiều. Khi đó, xuất khẩu số sẽ không còn là cơ hội riêng của doanh nghiệp lớn, mà mở ra cho cả hợp tác xã nhỏ hay hộ kinh doanh địa phương.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!