![]() |
Theo số liệu từ Metric.vn, trong quý I/2026, tổng doanh số TMĐT đạt khoảng 134,6 nghìn tỷ đồng (tương đương 5,1 tỷ USD), tăng 32,74% so với cùng kỳ năm 2025. Kế quả trên cho thấy, dù mới trải qua quý đầu của năm 2026, song triển vọng khá tích cực.
![]() |
Theo báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), sau hơn ba thập kỷ hội nhập, bức tranh ngoại thương Việt Nam đã có bước tăng trưởng mang tính bứt phá.
Từ mức kim ngạch khiêm tốn khoảng 13 tỷ USD năm 1995, tổng giá trị XNK đã vươn lên gần 930 tỷ USD vào năm 2025, phản ánh sự mở rộng nhanh chóng về quy mô và độ sâu hội nhập của nền kinh tế.
Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, năm 2026 được kỳ vọng sẽ đánh dấu một cột mốc mới khi tổng kim ngạch xuất lần đầu tiên chạm ngưỡng 1.000 tỷ USD. Ngay trong quý I/2026, con số này đã đạt 249,5 tỷ USD, tạo nền tảng thuận lợi để hiện thực hóa mục tiêu kỷ lục trong các quý tiếp theo.
Trong bức tranh chung đó, TMĐT xuyên biên giới đang nổi lên như một “chất xúc tác” mới của tăng trưởng.
Năm 2025 được xem là dấu mốc quan trọng khi quy mô thị trường TMĐT Việt Nam đạt khoảng 31 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có thị trường lớn nhất thế giới. Đặc biệt, xuất khẩu qua kênh này ghi nhận mức tăng trưởng lên tới 78%, điều này cho thấy xu hướng xuất khẩu số đang từng bước trở thành động lực mới trong tiến trình tăng trưởng.
Tuy nhiên, khi đặt các con số này trong tổng thể nền kinh tế, một khoảng trống đáng kể bắt đầu lộ rõ.
Tổng giá trị xuất nhập khẩu qua TMĐT trong năm 2025 mới chỉ đạt khoảng 4,45 tỷ USD, trong khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã lên tới 930 tỷ USD.
Sự chênh lệch lớn này không đơn thuần là câu chuyện về quy mô, mà phản ánh một thực tế sâu hơn: TMĐT dù tăng trưởng nhanh nhưng vẫn chưa thực sự trở thành một trụ cột trong hoạt động xuất khẩu.
![]() |
Có thể hình dung TMĐT như một “đường cao tốc mới” đang dần hình thành, hiện đại, nhiều tiềm năng, nhưng lưu lượng hàng hóa thực sự lưu thông trên đó vẫn còn khá khiêm tốn.
Hạ tầng đã bắt đầu được mở ra, cơ hội đã hiện hữu, nhưng mức độ khai thác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Điều này đặt ra câu hỏi không phải về tốc độ tăng trưởng, mà về khả năng chuyển hóa tăng trưởng thành giá trị thực chất trong dài hạn.
Ở góc độ doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực siêu nhỏ, nhỏ và vừa, xu hướng dịch chuyển sang TMĐT đang diễn ra rõ nét và mang tính chiến lược.
Khảo sát gần đây của Access Partnership với 300 doanh nghiệp cho thấy, có tới 97% doanh nghiệp xem TMĐT là yếu tố thiết yếu cho tăng trưởng. Đồng thời, 96% cho rằng TMĐT giúp nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu và 98% ghi nhận tác động tích cực đến doanh số. Những con số này cho thấy, TMĐT đã trở thành một kênh phát triển quan trọng trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ góc độ thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang dần định hình rõ hơn hướng đi của mình trong không gian TMĐT toàn cầu. Các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc và Vương quốc Anh tiếp tục là điểm đến trọng tâm. Trong đó, Hoa Kỳ nổi lên như thị trường chủ lực, chiếm khoảng 22% doanh số xuất khẩu TMĐT theo mô hình xuất khẩu TMĐT tới người tiêu dùng cuối cùng ở nước ngoài (B2C) và được 82% doanh nghiệp đánh giá là thị trường tiềm năng nhất. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tham gia mà đang chủ động lựa chọn và khai thác những thị trường có giá trị cao.
Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chuyển dịch quan trọng: doanh nghiệp Việt Nam đã không còn đứng ngoài xu hướng TMĐT toàn cầu, mà đang từng bước hội nhập sâu hơn vào dòng chảy này.
![]() |
Nguồn: Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương)
|
Nguồn: Access Partnership |
![]() |
TMĐT xuyên biên giới tại Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn thử nghiệm sang giai đoạn mở rộng quy mô, với sự tham gia ngày càng lớn của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Sự chuyển dịch này không chỉ thể hiện ở số lượng doanh nghiệp, mà còn ở cơ cấu ngành hàng.
Các nhóm sản phẩm đang dẫn đầu xuất khẩu qua TMĐT gồm: Nội thất và trang trí khoảng 29%; may mặc và phụ kiện khoảng 24%; sức khỏe và làm đẹp khoảng 16%; nông sản chế biến khoảng 13%.
Dẫn chứng số liệu trên, ông Hải cho rằng, đây đều là những ngành có lợi thế sản xuất của Việt Nam. Trước đây, các ngành này chủ yếu tham gia chuỗi giá trị toàn cầu dưới dạng gia công, phụ thuộc vào đơn hàng và trung gian.
TMĐT đang mở ra một hướng đi khác, tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng toàn cầu. Sự thay đổi này mang tính cấu trúc. Tuy nhiên, theo ông Hải, nó mới dừng ở mức “mở rộng kênh”, chưa tạo ra “đột phá về giá trị”.
Một trong những điểm đáng chú ý là dù tăng trưởng nhanh, TMĐT chưa giúp thay đổi đáng kể giá trị gia tăng trong xuất khẩu.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn xuất khẩu theo mô hình OEM (gia công), thiếu thương hiệu riêng, thiếu khả năng định giá sản phẩm.
Điều này dẫn đến một nghịch lý, doanh nghiệp bán được nhiều hơn nhưng chưa chắc thu được nhiều giá trị hơn.
Ở góc độ thị trường, sự phụ thuộc vào một số thị trường lớn như: Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc cũng khiến rủi ro tập trung tăng lên.
TMĐT giúp rút ngắn khoảng cách địa lý nhưng chưa thực sự giúp doanh nghiệp thoát khỏi những ràng buộc truyền thống về cấu trúc thị trường.
![]() |
![]() |
Nguồn: Access Partnership
![]() |
Theo Hiệp hội Thương mại điện tử (TMĐT) Việt Nam, TMĐT Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng, với quy mô thị trường đạt 31 tỷ USD vào năm 2025 và được dự báo có thể đạt 50-70 tỷ USD vào năm 2030, tương ứng mức tăng trưởng trung bình khoảng 20% mỗi năm.
Xu hướng này tiếp tục được thể hiện rõ trong quý I/2026, khi tổng doanh số TMĐT đạt khoảng 134,6 nghìn tỷ đồng (tương đương 5,1 tỷ USD), tăng 32,74% so với cùng kỳ năm 2025, theo số liệu từ Metric.vn.
Kết quả trên cho thấy, dù mới trải qua quý đầu của năm 2026, song triển vọng khá tích cực, khi Nghị quyết số 01/NQ-CP đặt mục tiêu cho thị trường TMĐT tăng khoảng 20-22%. Tuy nhiên, để TMĐT không chỉ mở rộng về quy mô, mà còn thực sự trở thành động lực thúc đẩy xuất khẩu của nền kinh tế vẫn cần có thêm các giải pháp thiết thực và phù hợp hơn trước sự biến động của thị trường hiện nay.
![]() |
![]() |
Trong toàn bộ chuỗi giá trị, logistics được xem là điểm nghẽn lớn nhất.
Chi phí vận chuyển quốc tế, thời gian giao hàng và năng lực kho bãi ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khảo sát của Access Partnership cho thấy, 96% doanh nghiệp cho rằng phát triển hệ thống kho bãi và hoàn tất đơn hàng tại thị trường nước ngoài sẽ giúp giảm chi phí logistics.
Trong thực tế, một số mô hình đã được triển khai tại Việt Nam như: Khu thương mại tự do Hải Phòng giúp thí điểm thủ tục hải quan tinh gọn. Các khu TMĐT xuyên biên giới tại Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh giúp rút ngắn thời gian thông quan từ khoảng 24 giờ xuống dưới 4 giờ…
Về phía nền tảng, các giải pháp của Amazon như: Amazon Global Logistics hay Fulfillment by Amazon cũng phần nào giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam giảm bớt rào cản vận hành, đặc biệt trong khâu giao hàng và lưu kho.
Tuy nhiên, logistics không chỉ là câu chuyện của hạ tầng, mà còn liên quan đến khả năng tổ chức chuỗi cung ứng, điều mà nhiều doanh nghiệp nhỏ vẫn còn hạn chế.
Bên cạnh logistics, các yêu cầu về tiêu chuẩn sản phẩm và quy định tại thị trường nhập khẩu cũng là thách thức lớn.
Khảo sát của Access Partnership cũng đưa ra nhận định, có khoảng 44% doanh nghiệp cho biết, họ gặp khó khăn trong việc thực hiện các quy định xuất khẩu qua TMĐT.
Các rào cản phổ biến gồm: tiêu chuẩn an toàn sản phẩm; quy định ghi nhãn; thủ tục hải quan; quy định về thuế.
Ngoài ra, hạn chế về năng lực nội tại cũng là vấn đề đáng chú ý. Nhiều doanh nghiệp thiếu nhân lực có kỹ năng vận hành TMĐT quốc tế, thiếu hiểu biết về thị trường và hành vi tiêu dùng. Trong khi đó, TMĐT đòi hỏi một hệ thống năng lực mới: từ quản trị dữ liệu, marketing số đến vận hành gian hàng.
![]() |
Trong toàn bộ chuỗi giá trị xuất khẩu qua TMĐT, logistics vẫn là “nút thắt” lớn nhất, chi phối trực tiếp đến nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thực tế khảo sát cho thấy nhận thức về vấn đề này đã khá rõ ràng. Theo Access Partnership, có tới 96% doanh nghiệp cho rằng việc phát triển hệ thống kho bãi và năng lực hoàn tất đơn hàng ngay tại thị trường nước ngoài là giải pháp quan trọng giúp giảm chi phí logistics. Điều này phản ánh xu hướng chuyển dịch từ mô hình xuất khẩu truyền thống sang mô hình “đặt hàng gần thị trường”, rút ngắn khoảng cách địa lý bằng cách tái cấu trúc chuỗi cung ứng.
Trên thực tế, một số mô hình thí điểm tại Việt Nam đã bắt đầu cho thấy hiệu quả tích cực. Các khu thương mại tự do như tại Hải Phòng đang từng bước tinh gọn thủ tục hải quan, trong khi các khu TMĐT xuyên biên giới tại Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh đã giúp rút ngắn đáng kể thời gian thông quan, từ khoảng 24 giờ xuống còn dưới 4 giờ. Đây là những tín hiệu cho thấy nếu được đầu tư đúng hướng, logistics hoàn toàn có thể chuyển từ điểm nghẽn thành lợi thế cạnh tranh.
Song song với đó, các nền tảng toàn cầu cũng đang góp phần “bù đắp” những thiếu hụt về hạ tầng cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đại diện Shopee cho biết, từ năm 2022 đến nay, nền tảng này đã hỗ trợ hơn 350.000 doanh nghiệp Việt tiếp cận thị trường ASEAN, trong đó khoảng 1.000 thương hiệu đã tham gia xuất khẩu qua nền tảng Shopee Quốc tế.
![]() |
Các giải pháp như Amazon Global Logistics hay Fulfillment by Amazon của Amazon cho phép doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận hệ thống vận hành, lưu kho và giao hàng tiêu chuẩn quốc tế mà không cần đầu tư lớn ban đầu. Nhờ đó, rào cản gia nhập thị trường quốc tế được hạ thấp, tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào TMĐT xuyên biên giới.
Tuy nhiên, logistics không chỉ là câu chuyện của hạ tầng hay dịch vụ bên ngoài, mà còn là bài toán về năng lực tổ chức chuỗi cung ứng. Đây lại chính là điểm yếu phổ biến của nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khối nhỏ và vừa. Việc thiếu khả năng dự báo nhu cầu, quản lý tồn kho hay tối ưu dòng vận chuyển khiến chi phí logistics khó giảm, dù hạ tầng có được cải thiện.
Bên cạnh logistics, các rào cản về tiêu chuẩn và quy định tại thị trường nhập khẩu cũng đang trở thành thách thức lớn. Khoảng 44% doanh nghiệp cho biết gặp khó khăn trong việc tuân thủ các quy định khi xuất khẩu qua TMĐT. Những yêu cầu liên quan đến tiêu chuẩn an toàn sản phẩm, quy định ghi nhãn, thủ tục hải quan hay chính sách thuế không chỉ phức tạp mà còn thay đổi liên tục, đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực thích ứng cao.
Nhìn tổng thể, việc tháo gỡ các rào cản hiện nay không thể chỉ dừng ở đầu tư hạ tầng hay cải cách thủ tục, mà cần một cách tiếp cận toàn diện hơn, trong đó doanh nghiệp phải đồng thời nâng cấp năng lực vận hành, thích ứng với tiêu chuẩn quốc tế và chủ động tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Chỉ khi đó, logistics mới thực sự chuyển từ “nút thắt” thành “đòn bẩy” cho xuất khẩu số.
![]() |
![]() |
![]() |
TMĐT Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mang mang tính bước ngoặt, nơi những thành quả tích lũy trong suốt thời gian qua bắt đầu bộc lộ rõ giới hạn, đồng thời mở ra yêu cầu cấp thiết về một mô hình tăng trưởng mới.
Sau nhiều năm phát triển nhanh, TMĐT không còn là một kênh thử nghiệm mà đã trở thành một cấu phần quan trọng trong hệ sinh thái xuất khẩu. VECOM dự báo, đến năm 2030, doanh thu TMĐT Việt Nam có thể đạt 50 - 70 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng trung bình 20% hàng năm.
Khoảng cách giữa tiềm năng và thực tế vì thế trở thành chỉ dấu rõ ràng nhất cho giai đoạn chuyển tiếp hiện nay. Lợi thế này chỉ thực sự phát huy khi đi kèm với năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu và khả năng xây dựng thương hiệu dài hạn. Nếu không, TMĐT rất dễ trở thành một kênh “bán nhanh - giá thấp”, thay vì một công cụ tạo giá trị gia tăng bền vững.
Định hướng phát triển này càng trở nên quan trọng khi đặt trong mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam. Theo kế hoạch mục tiệu đặt ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP, năm 2026 thị trường thương mại điện tử sẽ tăng khoảng 20-22%. Để đạt được mục tiêu này, TMĐT không chỉ là một kênh bổ trợ mà đang dần trở thành một động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, động lực này không thể vận hành độc lập, mà cần sự cộng hưởng từ nhiều yếu tố.
![]() |
Trước hết là năng lực sản xuất phải được xem là nền tảng cốt lõi quyết định khả năng cạnh tranh. Việc phát triển công nghiệp nền tảng, chủ động nguồn nguyên liệu và đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển sẽ giúp doanh nghiệp không chỉ tham gia mà còn nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Song song đó, việc chuyển dịch từ mô hình gia công (OEM) sang xây dựng thương hiệu riêng (OBM) là xu hướng tất yếu để gia tăng giá trị xuất khẩu.
Ở phía thị trường, việc mở rộng thông qua các hiệp định thương mại tự do, đa dạng hóa thị trường và hoàn thiện hệ sinh thái thanh toán quốc tế sẽ giúp giảm phụ thuộc và tăng khả năng thích ứng. Trong khi đó, hoạt động xúc tiến thương mại cần được tái cấu trúc theo hướng số hóa, gắn với xây dựng thương hiệu quốc gia, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, những yếu tố ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc trên các nền tảng TMĐT toàn cầu.
Đặc biệt, logistics tiếp tục là “nút thắt” quan trọng nhất cần được tháo gỡ. Việc đầu tư vào các trung tâm logistics TMĐT quốc tế, hệ thống kho ngoại quan, kho lạnh và tối ưu chi phí vận hành không chỉ giúp giảm giá thành mà còn nâng cao tốc độ và độ tin cậy trong giao hàng.
Ở cấp độ không gian, TMĐT xuyên biên giới đang dần hình thành các vùng động lực với vai trò khác nhau. Từ các khu thí điểm tại tuyến biên giới phía Bắc, đến các trung tâm bán hàng tại đồng bằng Sông Hồng, hay các vùng nguyên liệu như: Tây Nguyên và đồng bằng Sông Cửu Long, mỗi khu vực đang từng bước tham gia vào chuỗi giá trị TMĐT theo lợi thế riêng. Xu hướng “nông dân lên sàn”, phát triển sản phẩm chế biến sâu và tận dụng hệ thống cảng biển, cửa khẩu đang góp phần định hình lại bản đồ xuất khẩu số của Việt Nam.
Đồng thời, cơ cấu ngành hàng cũng cho thấy sự chuyển dịch tích cực, với các nhóm có giá trị gia tăng cao như nội thất, thời trang, sản phẩm làm đẹp và nông sản chế biến ngày càng chiếm tỷ trọng lớn.
Những tín hiệu trên cho thấy, TMĐT đã mở ra một con đường mới cho xuất khẩu Việt Nam, tuy nhiên, để đi hết con đường đó, cần nhiều hơn tốc độ tăng trưởng, cần sự đồng bộ giữa doanh nghiệp và chính sách. Xuất khẩu qua TMĐT vì thế không còn là “có tham gia hay không”, mà là “làm thế nào để tạo ra giá trị thực”.
![]() |
Nguồn: Access Partnership
![]() |
![]() |