Tự chịu trách nhiệm
Điểm cốt lõi tại dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 68/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 67/2020/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan chính là sự thay đổi mang tính bản lề đặt doanh nghiệp vào vị trí chủ thể tự chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật.
Thay vì chỉ tuân thủ thụ động các yêu cầu kiểm tra định kỳ, doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, địa điểm giờ đây phải tự đảm bảo tính chính xác tuyệt đối của mọi thông tin cung cấp cho cơ quan Hải quan.
Điều này bao hàm từ quyền sử dụng đất, công trình trên đất cho đến các quy chuẩn khắt khe về phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường. Việc lưu giữ chứng từ chứng minh năng lực không còn là thủ tục hành chính nhất thời mà trở thành nghĩa vụ xuyên suốt quá trình hoạt động.
![]() |
| Công chức hải quan kiểm tra hệ thống camera giám sát hàng hóa tại kho bãi của doanh nghiệp chế xuất. Ảnh: H.Nụ |
Mọi biến động về hiện trạng kho bãi hay chủng loại hàng hóa lưu giữ, đặc biệt là các mặt hàng nhạy cảm như xăng dầu, hóa chất, khí hóa lỏng phải được doanh nghiệp chủ động thông báo ngay lập tức để cập nhật vào hệ thống quản lý rủi ro của ngành Hải quan.
Sự chuyên sâu trong các quy định mới còn được thể hiện rõ nét qua việc phân tách trách nhiệm trong các mô hình phức hợp như địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS) hay hàng chuyển phát nhanh.
Dự thảo nghị định thiết lập một “hàng rào” kỹ thuật cứng đối với hoạt động cho thuê lại mặt bằng:. Nếu bên thuê không sử dụng chung hệ thống của chủ kho, họ buộc phải tự đầu tư lắp đặt máy móc, thiết bị đáp ứng đúng tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên dùng quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị định.
Điều này loại bỏ hoàn toàn các kẽ hở về việc “mượn” năng lực hạ tầng để lách luật. Khi một địa điểm bị tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động theo quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Nghị định, việc thu hồi mã kho bãi trên hệ thống ngay lập tức sẽ là chế tài mạnh mẽ nhất, tạo ra cơ chế đào thải tự nhiên, chỉ những doanh nghiệp thực sự đủ tiềm lực và tính tuân thủ cao mới có thể đứng vững trong chuỗi cung ứng quốc tế.
Trao đổi về vấn đề này, đại diện một doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan tại khu vực cửa khẩu Chi Ma (Lạng Sơn) cho biết, việc quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bố trí khu vực riêng cho hàng vi phạm, hàng quá hạn và chịu chi phí xử lý là một điểm rất thực tế.
Quy định này buộc doanh nghiệp kinh doanh kho bãi phải thắt chặt quy trình quản trị nội bộ, chủ động phối hợp với khách hàng để xử lý hàng tồn, tránh tình trạng bị động gây lãng phí hạ tầng và rủi ro pháp lý cho chính mình, đại diện doanh nghiệp nhấn mạnh.
Giám sát số hóa
Song hành với việc gia tăng áp lực trách nhiệm lên doanh nghiệp, cơ quan Hải quan cũng thực hiện cuộc cách mạng trong phương thức vận hành, chuyển dịch từ kiểm soát trực tiếp sang giám sát dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại.
Giải pháp mới chú trọng vào việc thiết lập dữ liệu không ngắt quãng, Cục Hải quan và chi cục hải quan khu vực có nhiệm vụ đảm bảo sự kết nối thông suốt giữa hệ thống quản lý nhà nước và hệ thống thông tin quản trị hàng hóa của doanh nghiệp.
Việc giám sát hàng hóa đưa vào, đưa ra được thực hiện trực tuyến 24/7 thông qua camera giám sát và dữ liệu điện tử kết nối trực tiếp. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu can thiệp thủ công của cán bộ công chức mà còn là yếu tố tiên quyết để giải phóng hàng hóa nhanh chóng, cắt giảm gánh nặng chi phí logistics cho toàn nền kinh tế.
Một đột phá quan trọng khác là cơ chế kiểm tra tình hình hoạt động định kỳ 2 năm một lần dựa trên nguyên tắc quản lý rủi ro. Đây là minh chứng cho tư duy quản trị hiện đại, thay vì dàn hàng ngang kiểm tra tất cả, mà sẽ tập trung nguồn lực vào những địa điểm có chỉ số rủi ro cao hoặc lịch sử tuân thủ kém.
Ngược lại, những doanh nghiệp có hệ thống dữ liệu minh bạch, chấp hành tốt pháp luật sẽ được hưởng lợi từ việc giảm tần suất kiểm tra, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng và công bằng. Chi cục trưởng chi cục hải quan khu vực được giao quyền chủ động trong việc ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn trao đổi dữ liệu, đảm bảo tính đồng bộ kỹ thuật tuyệt đối giữa máy móc chuyên dùng của doanh nghiệp và hệ thống xử lý dữ liệu của Ngành, từ đó tối ưu hóa công tác hậu kiểm.
Theo đại diện Ban Giám sát quản lý về hải quan (Cục Hải quan), việc xây dựng cơ chế phối hợp trong lắp đặt trang thiết bị và giám sát hàng hóa là yếu tố sống còn để duy trì hiệu lực quản lý nhà nước. Cơ quan Hải quan không chỉ đóng vai trò hướng dẫn doanh nghiệp duy trì điều kiện hoạt động mà còn phải là đơn vị dẫn dắt trong việc chuẩn hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên dùng.
Sự minh bạch về quy chuẩn giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn vào hạ tầng, tránh các rủi ro phát sinh do sự thiếu đồng nhất trong triển khai thực tế giữa các địa phương. Cơ quan Hải quan kỳ vọng, bức tranh quản lý kho bãi tại Việt Nam đang dần tiến tới sự tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế, nơi sự minh bạch và tính tự giác của doanh nghiệp chính là thước đo cho sự phát triển bền vững trong kỷ nguyên kinh tế số.