![]() |
| TP. Hồ Chí Minh đang triển khai chiến lược phát triển ngành logistics với hàng loạt giải pháp đồng bộ về hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và cơ chế đặc thù. |
Phát triển đồng bộ các giải pháp
Phát biểu tại chương trình Cà phê Doanh nhân HUBA lần thứ 90 ngày 4/7, ông Lê Văn Danh, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh cho biết, logistics được xác định là một trong năm ngành kinh tế trọng điểm của thành phố và là lĩnh vực ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn tới. Theo đó, thành phố đang triển khai nhiều nhóm giải pháp đồng bộ, trong đó trọng tâm là hoàn thiện hệ thống hạ tầng logistics theo hướng kết nối đa phương thức.
Đối với hạ tầng đường bộ, hàng loạt dự án trọng điểm như các tuyến Vành đai, cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Chơn Thành, TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài, TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ và mở rộng cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương đang được đẩy nhanh tiến độ. Khi hoàn thành, các công trình này sẽ góp phần tăng năng lực vận tải, rút ngắn thời gian lưu thông hàng hóa và giảm áp lực cho mạng lưới giao thông hiện hữu.
Song song với đó, TP. Hồ Chí Minh đang thúc đẩy quy hoạch hệ thống đường sắt phục vụ vận tải hàng hóa, trong đó tuyến kết nối các khu công nghiệp Bình Dương với cụm cảng Cái Mép - Thị Vải được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển quan trọng trong hoạt động logistics. Việc tăng tỷ trọng vận tải đường sắt không chỉ giảm phụ thuộc vào đường bộ mà còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh trong dài hạn.
Đối với vận tải đường thủy, thành phố đang kiến nghị Trung ương phân cấp quản lý các tuyến luồng lớn để chủ động đầu tư, nạo vét và nâng cấp hạ tầng. Đồng thời, cụm cảng Cái Mép - Thị Vải tiếp tục được mở rộng theo định hướng trở thành cảng trung chuyển quốc tế. Khi được kết nối đồng bộ với hệ thống đường bộ, đường sắt và đường thủy, cụm cảng này được kỳ vọng sẽ hình thành mạng lưới logistics hiện đại, góp phần kéo giảm đáng kể chi phí vận chuyển.
Bên cạnh các giải pháp về hạ tầng và chính sách, nhiều ý kiến tại tọa đàm cho rằng doanh nghiệp cần chủ động tái cấu trúc chuỗi cung ứng, ứng dụng công nghệ và tăng cường liên kết để giảm chi phí logistics, thay vì chỉ trông chờ vào những yếu tố bên ngoài.
![]() |
| Doanh nghiệp đang đứng trước áp lực chi phí logistics tăng cao. Ảnh: T.D |
Chủ động trước áp lực chi phí
Theo bà Đặng Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP. Hồ Chí Minh, chi phí logistics của Việt Nam hiện đã vượt 20% GDP, cao hơn mức 17-18% trước đây do tác động của biến động địa chính trị, giá nhiên liệu, chi phí công nghệ và yêu cầu chuyển đổi xanh.
Để giảm áp lực chi phí, doanh nghiệp cần chuyển sang mô hình kinh tế chia sẻ, tăng cường sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài, kết hợp vận tải đa phương thức, đẩy mạnh ứng dụng AI và chuyển đổi số trong quản trị chuỗi cung ứng. Việc tập trung nguồn lực cho hoạt động sản xuất cốt lõi, thay vì tự đầu tư toàn bộ kho bãi, phương tiện hay hệ thống phân phối, sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh.
Từ thực tiễn hoạt động, ông Phan Minh Thông, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Phúc Sinh cho biết, chi phí logistics đang bào mòn đáng kể lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu. Riêng trong tháng 6, Phúc Sinh phải chi khoảng 22 tỷ đồng cho cước tàu và các loại phụ phí logistics, trong khi lợi nhuận gộp chỉ đạt 41 tỷ đồng, đồng nghĩa chi phí logistics chiếm tới 55% lợi nhuận gộp.
Ngoài biến động giá cước, doanh nghiệp còn chịu áp lực từ những điểm nghẽn kéo dài của hạ tầng như phụ thuộc vào vận tải đường bộ, thiếu kết nối đường sắt và đường thủy với cảng biển, cũng như chưa có đội tàu container đủ mạnh để chủ động vận chuyển hàng hóa.
Để thích ứng, Công ty CP Phúc Sinh đã chủ động thuê tàu đối với khoảng 80% lô hàng xuất khẩu theo điều kiện CNF/CIF nhằm kiểm soát tốt hơn chi phí và tiến độ giao hàng. Đồng thời, ông kiến nghị tiếp tục đầu tư hệ thống đường sắt kết nối khu công nghiệp với cảng biển, phát triển đội tàu container của Việt Nam và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm giảm chi phí logistics một cách bền vững.
Tương tự, ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng Giám đốc Vina T&T Group cho rằng, lợi thế về giá cước không nằm ở khả năng đàm phán mà phụ thuộc vào quy mô sản lượng và mức độ cam kết với đơn vị logistics. Trong khi nhiều doanh nghiệp FDI tập trung sản lượng cho một đối tác để tạo lợi thế thương lượng với hãng tàu, không ít doanh nghiệp trong nước vẫn chia nhỏ đơn hàng cho nhiều đơn vị vận chuyển, khiến sản lượng phân tán và khó đạt mức giá cạnh tranh.
Theo đó, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng kế hoạch xuất khẩu dài hạn, dự báo sản lượng và chia sẻ kế hoạch với các doanh nghiệp logistics để tạo cơ sở đàm phán, ổn định giá cước và hình thành chuỗi cung ứng bền vững.