Thứ bảy 24/10/2026 04:50
Thời tiết: Hà Nội 26°C
Đà Nẵng 24°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 27°C
TP Hồ Chí Minh 25°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Vận tải đa phương thức trước yêu cầu giảm chi phí logistics

Ngô Kiến
Khi hơn 90% hàng xuất nhập khẩu (XNK) vẫn phụ thuộc vào đường biển và đường bộ tiếp tục chiếm ưu thế vận tải nội địa, yêu cầu hoàn thiện hạ tầng vận tải, kết nối đa phương thức đang trở thành bài toán cấp thiết, góp phần giảm chi phí logistics và nâng sức cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu.
Vận tải đa phương thức trước yêu cầu giảm chi phí logistics
Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư hạ tầng quy mô lớn nhằm tái cấu trúc mạng lưới logistics quốc gia. Ảnh minh họa.

Gần 1 tỷ tấn hàng hóa qua cảng biển mỗi năm

Hệ thống logistics Việt Nam đang bước vào giai đoạn chịu sức ép lớn chưa từng có khi quy mô hàng hóa XNK tiếp tục tăng mạnh, trong khi kết nối giữa các phương thức vận tải vẫn thiếu đồng bộ.

Theo Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, cả nước hiện có 34 cảng biển với 320 bến cảng, tổng công suất thiết kế hơn 1 tỷ tấn hàng hóa mỗi năm. Riêng năm 2025, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển đạt khoảng 960 triệu tấn, trong đó container đạt gần 34 triệu TEU.

Phía sau tốc độ tăng trưởng trên là áp lực ngày càng đối với hạ tầng logistics. Theo Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, cảng biển hiện là nơi giao cắt của năm phương thức vận tải gồm đường biển, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không. Tuy nhiên, kết nối giữa các phương thức này vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa có hệ thống dữ liệu dùng chung hiệu quả.

Hiện khoảng 90% hàng hóa XNK của Việt Nam được vận chuyển bằng đường biển, trong khi vận tải đường bộ vẫn đảm nhận hơn 70-75% thị phần vận chuyển hàng hóa nội địa. Sự lệ thuộc lớn vào đường bộ khiến chi phí logistics duy trì ở mức cao so với nhiều quốc gia trong khu vực. Các cơ quan quản lý cho rằng, điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở việc thiếu hạ tầng, mà còn là sự đứt gãy trong kết nối giữa các loại hình vận tải.

Ở lĩnh vực đường sắt, Cục Đường sắt Việt Nam nhìn nhận hạ tầng hiện tồn tại nhiều điểm nghẽn mang tính hệ thống. Phần lớn mạng lưới đang sử dụng khổ ray 1.000 mm, trong khi nhiều tuyến mới hướng tới tiêu chuẩn 1.435 mm, gây khó khăn cho kết nối liên vận quốc tế.

Không ít ga hàng hóa thiếu thiết bị bốc xếp hiện đại, kho bãi hạn chế và chưa đủ năng lực tiếp nhận đoàn tàu container lớn. Đáng chú ý, các cảng cửa ngõ quan trọng như Lạch Huyện hay Cái Mép-Thị Vải vẫn chưa có tuyến nhánh đường sắt kết nối trực tiếp.

Trong bối cảnh đó, nhiều tuyến kết nối chiến lược đang được nghiên cứu đầu tư như tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng kết nối hành lang logistics phía Bắc; tuyến Biên Hòa-Vũng Tàu phục vụ khu vực cảng Cái Mép-Thị Vải; cùng các tuyến liên vận sang Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Theo dự báo của Cục Đường sắt Việt Nam, nếu hạ tầng được kết nối đồng bộ, chi phí vận tải hàng hóa có thể giảm từ 10 - 15%, qua đó nâng năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu.

Không chỉ đường biển và đường sắt, ngành Hàng không cũng đang được đặt lại vai trò trong chuỗi logistics quốc gia.

Theo Cục Hàng không Việt Nam, cả nước hiện có 22 cảng hàng không đang khai thác và một cảng hàng không quốc tế đang hoàn thiện là Long Thành. Quy hoạch đến năm 2030 dự kiến nâng tổng số lên 31 cảng hàng không.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hạ tầng hiện chủ yếu phục vụ vận tải hành khách, trong khi vai trò logistics chưa được khai thác tương xứng. Nội Bài và Tân Sơn Nhất đang quá tải cục bộ, còn nhiều sân bay địa phương hoạt động chưa hiệu quả.

Các cảng hàng không hiện thiếu nhà ga hàng hóa chuyên biệt, thiếu bãi đỗ cho tàu bay vận tải hàng hóa và chưa hình thành không gian logistics hậu cần đồng bộ.

Theo định hướng mới, ngành Hàng không sẽ chuyển từ mô hình “điểm nút vận tải” sang “trung tâm kết nối logistics đa phương thức”. Các sân bay lớn dự kiến được tích hợp với đường sắt, đường bộ cao tốc, đường thủy và hệ thống logistics vùng.

Nhiều đề xuất cũng được đưa ra như xây dựng trung tâm logistics gần sân bay, phát triển ICD kết nối trực tiếp với cảng hàng không, đồng thời đưa thủ tục hải quan và kiểm định hàng hóa ra ngoài khu vực sân bay nhằm giảm áp lực lưu kho.

Tăng tốc đầu tư logistics để giải bài toán gần 1 tỷ tấn hàng hóa

Song song với nhu cầu kết nối vận tải, Việt Nam cũng đang đẩy mạnh đầu tư hạ tầng quy mô lớn nhằm tái cấu trúc mạng lưới logistics quốc gia.

Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam xác định phát triển hệ thống cảng biển hiện đại và dịch vụ logistics là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.

Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng đặt mục tiêu, xây dựng hệ thống cảng biển đồng bộ, hiện đại, có khả năng thông qua từ 1,25 đến 1,5 tỷ tấn hàng hóa vào năm 2030.

Nhiều dự án quy mô lớn cũng đang được đề xuất như: siêu cảng trung chuyển Cần Giờ với đối tác MSC hay dự án cảng nước sâu Nam Đồ Sơn, Hải Phòng.

Theo quy hoạch tổng thể, cảng Hải Phòng được xác định là cảng biển đặc biệt, đóng vai trò cửa ngõ XNK của toàn bộ khu vực phía Bắc. Đến năm 2030, lượng hàng hóa thông qua khu vực này dự kiến đạt khoảng 215 triệu tấn.

Ở phía Nam, sau quá trình sắp xếp lại hệ thống cảng, TP. Hồ Chí Minh hiện sở hữu mạng lưới cảng biển lớn nhất cả nước với 99 bến cảng. Mục tiêu đến năm 2030, lượng hàng hóa thông qua khu vực đạt khoảng 253 triệu tấn, trong đó container đạt từ 16,25-18,25 triệu TEU.

Bên cạnh các kế hoạch đầu tư công, nhiều doanh nghiệp cảng biển cũng đang mở rộng công suất nhằm đón đà tăng trưởng hàng hóa.

Trong bối cảnh lưu lượng hàng hóa tiếp tục tăng nhanh, yêu cầu đặt ra với hệ thống logistics Việt Nam không chỉ là mở rộng hạ tầng riêng lẻ mà là hình thành mạng lưới vận tải đa phương thức có khả năng kết nối hiệu quả giữa cảng biển, đường sắt, đường bộ, đường thủy và hàng không. Đây được xem là yếu tố quan trọng để giảm chi phí logistics và nâng năng lực cạnh tranh cho hoạt động XNK trong giai đoạn tới.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 35,72 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ, song tăng trưởng giữa các nhóm hàng còn phân hóa. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao, đơn hàng chưa đồng đều và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, nâng năng suất, chủ động nguồn cung và cải thiện hiệu quả sản xuất là những điều kiện quan trọng để ngành dệt may duy trì đà tăng trưởng. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), phân tích sâu hơn về triển vọng cuối năm, nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Đến ngày 15/10/2026, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 481,37 tỷ USD, tăng 37,2% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực đến từ máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, cùng máy móc, thiết bị và nhiều nhóm nguyên liệu. Đà tăng này mở ra khả năng nhập khẩu cả năm vượt 600 tỷ USD, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giá trị gia tăng trong nước.
Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Các vụ điều tra mới, rà soát và áp thuế phòng vệ thương mại trong quý III/2026 tiếp tục đặt doanh nghiệp xuất khẩu hàng Việt Nam trước yêu cầu nâng cao năng lực ứng phó. Đồng thời, việc sử dụng công cụ phòng vệ tại thị trường nội địa cho thấy bảo vệ sản xuất phải gắn với hồ sơ đầy đủ, dữ liệu minh bạch và khả năng cạnh tranh thực chất.
Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, phát triển thị trường đa kênh trở thành yêu cầu cấp thiết với doanh nghiệp Việt Nam. Hội thảo do Cục Xúc tiến Thương mại tổ chức tạo diễn đàn trao đổi giải pháp, kết nối nguồn lực, củng cố đầu ra, giúp hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.
Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam duy trì đà tăng trưởng nhờ lượng hàng xuất khẩu gia tăng, trong khi giá bình quân vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước. Áp lực giảm giá đặt ra yêu cầu nâng chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu và mở rộng thị trường để giữ đà tăng trưởng, cải thiện giá trị xuất khẩu.
Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Trong chặng nước rút hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, xuất khẩu cần chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả. Tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, logistics, thị trường, đồng thời củng cố năng lực doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị nội địa là yêu cầu then chốt để xuất khẩu bứt tốc, đóng góp bền vững cho nền kinh tế.
Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, Việt Nam nhập khẩu 203.600 ô tô nguyên chiếc, kim ngạch gần 4,7 tỷ USD, tăng 24,5% về lượng và 29,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, thị trường Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai về số lượng và giữ ưu thế về kim ngạch.
Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam hiện nay còn lớn, nhưng khả năng khai thác phụ thuộc vào năng lực cung ứng sản phẩm đạt chuẩn và đáp ứng yêu cầu xanh. Làm chủ vật liệu, liên kết sản xuất và xây dựng dữ liệu phát thải đang trở thành những nhiệm vụ gắn trực tiếp với sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu cơ khí trên thị trường quốc tế.
Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Trước sức ép cạnh tranh toàn cầu, chuyển đổi số trở thành yêu cầu cấp thiết với ngành dệt may Việt Nam, Hội thảo của VITAS tại HanoiTex - HanoiFabric 2026 gợi mở giải pháp từ đổi mới công nghệ đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, kinh doanh, giúp doanh nghiệp nâng năng suất, thích ứng thị trường và tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Chín tháng năm 2026, thương mại hai chiều Việt Nam - Singapore đạt gần 42,8 tỷ SGD (tương đương khoảng 33,5 tỷ USD), tăng 46,8% so với cùng kỳ. Đà tăng trưởng cho thấy giao thương giữa hai nước tiếp tục mở rộng, đồng thời tạo thêm cơ hội để hàng hóa Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối khu vực.
Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thị trường thương mại điện tử (TMĐT) Đông Nam Á đang mở rộng, với doanh số vượt 200 tỷ USD và dòng chi tiêu hàng ngoại lên tới 23-24 tỷ USD. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, đây là cơ hội để mở rộng kênh bán hàng và tiếp cận người tiêu dùng khu vực. Khả năng tận dụng cơ hội phụ thuộc vào việc lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp, đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì chất lượng sản phẩm.
Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu, cán cân thương mại hàng hóa tháng 9/2026 đã xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD. Đây là tín hiệu tích cực trong chặng nước rút cuối năm, song chưa làm thay đổi hoàn toàn bức tranh thương mại khi tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD và nhập khẩu tiếp tục tăng nhanh hơn xuất khẩu. Vấn đề cần quan tâm không chỉ là trạng thái của cán cân thương mại, mà còn là khả năng chuyển hóa dòng hàng đầu vào phục vụ sản xuất và yêu cầu về nâng cao năng lực cung ứng nội địa để đạt được giá trị gia tăng cao hơn.
Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh không còn là xu hướng khuyến khích mà đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với doanh nghiệp cơ khí - điện, khi các tiêu chuẩn về môi trường, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng khắt khe.
Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Trong bối cảnh xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng trưởng mạnh, việc Hải quan Singapore cập nhật quy trình Chứng nhận nhập khẩu và Xác minh giao hàng (ICDV) đặt ra yêu cầu doanh nghiệp chủ động kiểm soát chứng từ, phối hợp với đối tác và tuân thủ thời hạn xử lý hồ sơ. Đây là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ chậm thông quan, phát sinh chi phí và bảo đảm hoạt động xuất khẩu thông suốt.
Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Năm 2026, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xuất khẩu tiếp tục là một trong những động lực quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Sau ba phần tư chặng đường, đà tăng trưởng thương mại tạo tiền đề cho những tháng cuối năm, đồng thời đặt ra yêu cầu nhìn nhận thấu đáo chất lượng tăng trưởng và khả năng đóng góp của xuất khẩu đối với nền kinh tế. Bước vào chặng nước rút, việc phát huy lợi thế các ngành hàng chủ lực, khai thác dư địa thị trường và tháo gỡ điểm nghẽn cần gắn với nâng cao năng lực sản xuất trong nước, gia tăng giá trị hàng hóa và chủ động thích ứng với yêu cầu của thị trường quốc tế; qua đó tạo cơ sở để chuyển hóa đà tăng trưởng thương mại thành nguồn lực củng cố nội lực và sức tự chủ của nền kinh tế.

Đọc nhiều

quy-dinh-ve-dang-bai-gioi-thieu-cong-bo-ket-qua-nghien-cuu-tren-tap-chi-kinh-te-tai-chinh
vietnam-post-avinh-13-10-13-11
toan-phat-group-2026
cty-cp-dai-phuc
acca-dung-24-10-30-11
tap-doan-than-khoang-san
agribank
phan-mem-ecus5
thong-bao
cong-ty-tnhh-thuong-mai-va-dich-vu-eco-patuo-viet-nam
chi-lan-viettel-2-tuan-22-10-6-11
qc-demo-3
qc-demo-4
qc-demo