![]() |
| Doanh nghiệp thuỷ sản linh hoạt thích ứng, duy trì nhịp sản xuất, mở rộng và giữ vững thị trường xuất khẩu. |
Chủ động xoay trục thị trường
Một trong những hạn chế nội tại của hoạt động xuất khẩu Việt Nam là sự mất cân đối nhất định trong cơ cấu thị trường. Xuất khẩu tập trung nhiều vào một số thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU. Điều này có thể tạo ra rủi ro nếu các thị trường này thay đổi chính sách hoặc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu liên tục xuất hiện những cú sốc khó lường, từ gián đoạn chuỗi cung ứng đến xung đột địa chính trị, một xu hướng đang trở nên rõ nét: doanh nghiệp không còn bỏ “trứng vào một giỏ”. Thay vào đó, việc chủ động xoay trục thị trường, mở rộng không gian xuất khẩu và tận dụng các hiệp định thương mại đang dần trở thành “lá chắn mềm” giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro.
Theo bà Nguyễn Dạ Quyên, Giám đốc Công ty tư vấn quản trị chuỗi cung ứng CEL, rủi ro không nằm ở một sự cố đơn lẻ mà đến từ cấu trúc của hệ thống thương mại toàn cầu.
Theo bà Quyên, dù phần lớn hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển, nhưng lại phụ thuộc vào một số rất ít “điểm nghẽn” như: Eo biển, kênh đào hay các cảng trung chuyển lớn… Chỉ cần một gián đoạn cục bộ dẫn đến toàn bộ chuỗi vận hành có thể bị ảnh hưởng.
Việc tàu phải chuyển hướng, thời gian vận chuyển kéo dài thêm hàng chục ngày không chỉ làm tăng chi phí mà còn kéo theo sự chậm trễ trong giao hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của doanh nghiệp xuất khẩu.
Đáng chú ý, những gián đoạn này không còn mang tính nhất thời. “Hệ thống không cần bị “đứt gãy” hoàn toàn, chỉ cần vận hành kém hiệu quả hơn cũng đủ tạo ra cú sốc trên diện rộng”, bà Quyên nhận định.
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp buộc phải tính lại bài toán thị trường, không chỉ để bán được hàng mà còn để đảm bảo dòng chảy xuất khẩu không bị phụ thuộc vào một tuyến vận tải hay một khu vực nhất định.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam chia sẻ, việc chuyển hướng thị trường cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với doanh nghiệp. Với ngành rau quả, thị trường Trung Đông chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nên phần kim ngạch này hoàn toàn có thể chuyển sang các thị trường khác mà không ảnh hưởng lớn đến toàn ngành.
Về chiến lược thị trường dài hạn, ngành rau quả hiện vẫn tập trung tận dụng lợi thế lớn nhất ở thị trường Đông Bắc Á, nơi có dân số đông, thu nhập cao và nhu cầu tiêu thụ rau quả lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc).
Đối với các thị trường xa như Mỹ và EU, xu hướng sắp tới sẽ là đẩy mạnh hàng chế biến và hàng đông lạnh thay vì tập trung quá nhiều vào hàng tươi do thời gian vận chuyển dài và chi phí logistics cao.
Theo ông Nguyên, Ấn Độ được đánh giá là thị trường có nhiều dư địa với khoảng 1,4 tỷ dân và tầng lớp trung lưu tăng nhanh nhưng hiện chưa được khai thác tương xứng; xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Ấn Độ hiện vẫn rất khiêm tốn. Vì vậy, cần tiếp tục thúc đẩy xúc tiến thương mại tại thị trường này nhằm mở rộng thêm dư địa cho rau quả Việt Nam.
Thực tế cho thấy, việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu không còn là chiến lược “nên làm” mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Theo ông Nguyễn Ngọc Linh, Trưởng ban Đào tạo xuất khẩu (Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số), xu hướng này đã bắt đầu hình thành rõ nét trong những năm gần đây.
“Hàng “Made in Vietnam” đang ngày càng hiện diện nhiều hơn tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ và châu Âu… Hàng dệt may Việt Nam đã có mặt tại gần 140 thị trường cũng cho thấy khả năng đa dạng hóa đang được cải thiện, giảm dần sự phụ thuộc vào một số thị trường lớn như trước.
Không chỉ mở rộng thị trường, doanh nghiệp còn tận dụng các hiệp định thương mại tự do để giảm chi phí và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Các cam kết về thuế quan, quy tắc xuất xứ hay thuận lợi hóa thương mại đang tạo ra “đường băng” để hàng Việt tiếp cận sâu hơn vào các thị trường lớn.
Đặc biệt, Hiệp định Thương mại điện tử vừa được 66 quốc gia thành viên WTO thông qua được kỳ vọng mở ra một không gian mới. “Hiệp định này giống như một “xa lộ” giúp hàng hóa Việt Nam tiếp cận trực tiếp các thị trường khó tính như châu Âu, với chi phí tối ưu và tốc độ nhanh hơn bao giờ hết”, ông Nguyễn Thanh Vân, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử toàn cầu nhận định.
Theo ông Vân, các quy định về hợp đồng điện tử, chữ ký số và hải quan một cửa không chỉ giảm chi phí giao dịch, mà còn giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian xử lý đơn hàng.
Tăng sức chống chịu và dư địa tăng trưởng
Thực tế cho thấy, việc chuyển hướng thị trường không phải không có tác động. Theo phân tích của các chuyên gia, việc xoay trục thị trường không chỉ là lựa chọn mang tính chiến thuật mà là quá trình tái cấu trúc cách doanh nghiệp tiếp cận thị trường, tổ chức sản xuất và quản trị rủi ro.
| Ngày 12/3, Bộ Công Thương đã khai trương nền tảng số về phát triển thị trường nước ngoài. Nền tảng này được kỳ vọng sẽ trở thành kho dữ liệu chung, cung cấp thông tin cập nhật về kinh tế - xã hội, chính sách thương mại, công nghiệp, năng lượng, đầu tư và các cơ hội giao thương tại các thị trường trên thế giới, qua đó hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trong công tác điều hành, đồng thời giúp doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng tiếp cận thông tin thị trường nhanh chóng và chính xác. |
Theo đó, doanh nghiệp phải điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất. Khi mở rộng sang nhiều thị trường, yêu cầu về tiêu chuẩn, quy cách và thời gian giao hàng cũng trở nên đa dạng hơn. Điều này đòi hỏi hệ thống sản xuất linh hoạt hơn, chi phí vận hành có thể tăng trong ngắn hạn.
Và như vậy, áp lực tuân thủ sẽ tăng lên. Các thị trường lớn như Mỹ và châu Âu ngày càng siết chặt quy định về truy xuất nguồn gốc, môi trường và phát thải.
“EU đang triển khai cơ chế điều chỉnh biên giới carbon, kéo theo yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe”, ông Nguyễn Ngọc Linh cho biết.
Cùng với đó, bài toán nội địa hóa cũng trở nên cấp thiết hơn. Khi tham gia nhiều hiệp định thương mại, nếu không đáp ứng quy tắc xuất xứ, doanh nghiệp có thể không tận dụng được ưu đãi thuế quan.
Theo ông Linh, ở những ngành như: dệt may hay da giày, mức độ phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu vẫn còn cao… nếu không nâng được tỷ lệ nội địa hóa, nguy cơ mất ưu đãi thuế là hoàn toàn hiện hữu.
Như vậy, đa dạng hóa thị trường không chỉ là mở rộng địa lý mà còn kéo theo yêu cầu nâng cấp toàn diện năng lực sản xuất và chuỗi cung ứng.
Mặc dù đối mặt nhiều thách thức, việc xoay trục thị trường đã mang lại những lợi ích rõ rệt.
Trước hết là giảm rủi ro phụ thuộc. Khi một thị trường gặp biến động, doanh nghiệp vẫn có thể duy trì dòng đơn hàng từ các thị trường khác. Đây chính là “tấm đệm” quan trọng trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng khó đoán định.
Thứ hai, mở rộng dư địa tăng trưởng. Việc tiếp cận nhiều thị trường giúp doanh nghiệp không bị giới hạn bởi sức mua của một khu vực, đồng thời có cơ hội tìm kiếm phân khúc giá trị cao hơn.
Thứ ba, tạo động lực nâng cấp. Các yêu cầu khắt khe từ thị trường phát triển buộc doanh nghiệp phải cải thiện quản trị, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và đầu tư vào công nghệ.
“Những yêu cầu này đang buộc doanh nghiệp phải vận hành bài bản hơn, minh bạch hơn và từng bước nâng cấp hệ thống”, ông Linh nhận định.
Chia sẻ về các giải pháp doanh nghiệp đang triển khai trong bối cảnh áp lực chi phí gia tăng do tác động từ xung đột tại Trung Đông gây ra, bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng thư ký Hiệp hội Giày da Việt Nam cho biết, doanh nghiệp trong ngành đang triển khai một số giải pháp ứng phó như chia sẻ chi phí trong toàn chuỗi cung ứng, tiết giảm chi phí quản lý và đẩy mạnh tự động hóa…
Đặc biệt, các doanh nghiệp đang điều chỉnh chiến lược thị trường theo hướng gần hơn với nơi sản xuất.
Theo bà Xuân, các nhãn hàng đang có xu hướng đẩy mạnh đơn hàng tại các thị trường gần khu vực sản xuất, ví dụ tăng cường đơn hàng trong khu vực châu Á nhằm giảm chi phí logistics và rủi ro vận chuyển.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng cho quá trình này.
Chi phí là rào cản đầu tiên. Việc mở rộng thị trường đòi hỏi đầu tư vào nghiên cứu thị trường, xây dựng kênh phân phối và đáp ứng tiêu chuẩn mới. Trong khi đó, chi phí logistics của Việt Nam vẫn ở mức 16-18% GDP, cao hơn trung bình thế giới.
Năng lực quản trị cũng là một điểm nghẽn. Không ít doanh nghiệp vẫn tiếp cận thị trường mới theo kiểu “thử nghiệm”, thiếu chiến lược dài hạn, dẫn đến hiệu quả chưa cao.
Ngoài ra, việc chuyển đổi mô hình kinh doanh cũng đặt ra yêu cầu mới. Từ gia công (OEM) sang thiết kế (ODM) và xây dựng thương hiệu (OBM) là một hành trình dài, đòi hỏi sự tích lũy cả về vốn, kinh nghiệm và thị trường.
Từ góc độ chuỗi cung ứng, bà Nguyễn Dạ Quyên cho rằng, xu hướng đa dạng hóa không chỉ diễn ra ở cấp độ doanh nghiệp mà đã trở thành chiến lược toàn cầu.
“Các doanh nghiệp toàn cầu bắt đầu đa dạng hóa tuyến vận tải, phân tán mạng lưới sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ, thay vì phụ thuộc vào một hành lang hay một khu vực duy nhất”, bà Quyên cho hay.
Theo TS. Mạc Quốc Anh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và nhiều khu vực còn phức tạp, bên cạnh tăng cường quản trị rủi ro địa chính trị, rà soát hợp đồng, điều khoản thanh toán, bảo hiểm và đa dạng hóa đối tác, tuyến vận tải, các doanh nghiệp cần tái cấu trúc thị trường xuất khẩu, vừa duy trì Trung Đông vừa mở rộng sang Nam Á, châu Phi và ASEAN để phân tán rủi ro.
Ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, phải coi đa dạng hóa thị trường và đa dạng hóa rủi ro là yêu cầu chiến lược.
Trong bối cảnh thế giới còn tiềm ẩn nhiều xung đột, cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn, biến động về logistics và khả năng xuất hiện các rào cản phi thuế quan mới, nếu phụ thuộc quá lớn vào một vài thị trường hoặc một vài kênh phân phối, rủi ro sẽ rất lớn.
“Phát triển thị trường giai đoạn tới phải hướng tới việc vừa giữ chắc các thị trường lớn, vừa mở rộng sang các thị trường tiềm năng, vừa nâng mức hiện diện trong hệ thống bán lẻ hiện đại, thương mại điện tử xuyên biên giới và các chuỗi phân phối có khả năng nâng giá trị thương hiệu”, ông Nguyễn Minh Tiến nhấn mạnh.
Đối với Việt Nam, điều này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu.
Nhấn mạnh vai trò của việc tận dụng đồng bộ các hiệp định thương mại, ông Nguyễn Thanh Vân cho rằng: Cần đặt Hiệp định Thương mại điện tử trong mối quan hệ với các cam kết khác như: RCEP, CPTPP… nếu tận dụng tốt, doanh nghiệp Việt Nam có thể vừa giảm chi phí tuân thủ trong khu vực, vừa thuận lợi kết nối với các thị trường lớn.
Đa dạng hóa không loại bỏ hoàn toàn biến động nhưng có thể giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro và duy trì dòng chảy xuất khẩu. Khi những “cơn gió ngược” vẫn còn hiện hữu, đây có thể xem là một trong những hướng đi đáng chú ý để củng cố sức chống chịu của xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn tới.