Thứ bảy 24/10/2026 05:47
Thời tiết: Hà Nội 26°C
Đà Nẵng 24°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 27°C
TP Hồ Chí Minh 25°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa
Bài toán nâng cao sức chống chịu của xuất khẩu Việt Nam

Bài 2: Xoay trục thị trường - Bước đi không thể trì hoãn của doanh nghiệp xuất khẩu

Thái Hằng - Nguyễn Hiền
Biến động địa chính trị, chi phí logistics leo thang và những “điểm nghẽn” vận tải toàn cầu đang buộc doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải thay đổi cách tiếp cận thị trường. Từ tận dụng các hiệp định thương mại đến đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, quá trình “xoay trục” này không chỉ là giải pháp tình thế mà dần trở thành chiến lược dài hạn nhằm duy trì năng lực cạnh tranh và tăng sức chống chịu cho hoạt động xuất khẩu cũng như cho toàn bộ nền kinh tế.
Bài 2: Xoay trục thị trường - Bước đi không thể trì hoãn của doanh nghiệp xuất khẩu
Doanh nghiệp thuỷ sản linh hoạt thích ứng, duy trì nhịp sản xuất, mở rộng và giữ vững thị trường xuất khẩu.

Chủ động xoay trục thị trường

Một trong những hạn chế nội tại của hoạt động xuất khẩu Việt Nam là sự mất cân đối nhất định trong cơ cấu thị trường. Xuất khẩu tập trung nhiều vào một số thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU. Điều này có thể tạo ra rủi ro nếu các thị trường này thay đổi chính sách hoặc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu liên tục xuất hiện những cú sốc khó lường, từ gián đoạn chuỗi cung ứng đến xung đột địa chính trị, một xu hướng đang trở nên rõ nét: doanh nghiệp không còn bỏ “trứng vào một giỏ”. Thay vào đó, việc chủ động xoay trục thị trường, mở rộng không gian xuất khẩu và tận dụng các hiệp định thương mại đang dần trở thành “lá chắn mềm” giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro.

Theo bà Nguyễn Dạ Quyên, Giám đốc Công ty tư vấn quản trị chuỗi cung ứng CEL, rủi ro không nằm ở một sự cố đơn lẻ mà đến từ cấu trúc của hệ thống thương mại toàn cầu.

Theo bà Quyên, dù phần lớn hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển, nhưng lại phụ thuộc vào một số rất ít “điểm nghẽn” như: Eo biển, kênh đào hay các cảng trung chuyển lớn… Chỉ cần một gián đoạn cục bộ dẫn đến toàn bộ chuỗi vận hành có thể bị ảnh hưởng.

Việc tàu phải chuyển hướng, thời gian vận chuyển kéo dài thêm hàng chục ngày không chỉ làm tăng chi phí mà còn kéo theo sự chậm trễ trong giao hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của doanh nghiệp xuất khẩu.

Đáng chú ý, những gián đoạn này không còn mang tính nhất thời. “Hệ thống không cần bị “đứt gãy” hoàn toàn, chỉ cần vận hành kém hiệu quả hơn cũng đủ tạo ra cú sốc trên diện rộng”, bà Quyên nhận định.

Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp buộc phải tính lại bài toán thị trường, không chỉ để bán được hàng mà còn để đảm bảo dòng chảy xuất khẩu không bị phụ thuộc vào một tuyến vận tải hay một khu vực nhất định.

Ông Đặng Phúc Nguyên, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam chia sẻ, việc chuyển hướng thị trường cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với doanh nghiệp. Với ngành rau quả, thị trường Trung Đông chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nên phần kim ngạch này hoàn toàn có thể chuyển sang các thị trường khác mà không ảnh hưởng lớn đến toàn ngành.

Về chiến lược thị trường dài hạn, ngành rau quả hiện vẫn tập trung tận dụng lợi thế lớn nhất ở thị trường Đông Bắc Á, nơi có dân số đông, thu nhập cao và nhu cầu tiêu thụ rau quả lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc).

Đối với các thị trường xa như Mỹ và EU, xu hướng sắp tới sẽ là đẩy mạnh hàng chế biến và hàng đông lạnh thay vì tập trung quá nhiều vào hàng tươi do thời gian vận chuyển dài và chi phí logistics cao.

Theo ông Nguyên, Ấn Độ được đánh giá là thị trường có nhiều dư địa với khoảng 1,4 tỷ dân và tầng lớp trung lưu tăng nhanh nhưng hiện chưa được khai thác tương xứng; xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Ấn Độ hiện vẫn rất khiêm tốn. Vì vậy, cần tiếp tục thúc đẩy xúc tiến thương mại tại thị trường này nhằm mở rộng thêm dư địa cho rau quả Việt Nam.

Thực tế cho thấy, việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu không còn là chiến lược “nên làm” mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Theo ông Nguyễn Ngọc Linh, Trưởng ban Đào tạo xuất khẩu (Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số), xu hướng này đã bắt đầu hình thành rõ nét trong những năm gần đây.

“Hàng “Made in Vietnam” đang ngày càng hiện diện nhiều hơn tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ và châu Âu… Hàng dệt may Việt Nam đã có mặt tại gần 140 thị trường cũng cho thấy khả năng đa dạng hóa đang được cải thiện, giảm dần sự phụ thuộc vào một số thị trường lớn như trước.

Không chỉ mở rộng thị trường, doanh nghiệp còn tận dụng các hiệp định thương mại tự do để giảm chi phí và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Các cam kết về thuế quan, quy tắc xuất xứ hay thuận lợi hóa thương mại đang tạo ra “đường băng” để hàng Việt tiếp cận sâu hơn vào các thị trường lớn.

Đặc biệt, Hiệp định Thương mại điện tử vừa được 66 quốc gia thành viên WTO thông qua được kỳ vọng mở ra một không gian mới. “Hiệp định này giống như một “xa lộ” giúp hàng hóa Việt Nam tiếp cận trực tiếp các thị trường khó tính như châu Âu, với chi phí tối ưu và tốc độ nhanh hơn bao giờ hết”, ông Nguyễn Thanh Vân, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử toàn cầu nhận định.

Theo ông Vân, các quy định về hợp đồng điện tử, chữ ký số và hải quan một cửa không chỉ giảm chi phí giao dịch, mà còn giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian xử lý đơn hàng.

Tăng sức chống chịu và dư địa tăng trưởng

Thực tế cho thấy, việc chuyển hướng thị trường không phải không có tác động. Theo phân tích của các chuyên gia, việc xoay trục thị trường không chỉ là lựa chọn mang tính chiến thuật mà là quá trình tái cấu trúc cách doanh nghiệp tiếp cận thị trường, tổ chức sản xuất và quản trị rủi ro.

Ngày 12/3, Bộ Công Thương đã khai trương nền tảng số về phát triển thị trường nước ngoài. Nền tảng này được kỳ vọng sẽ trở thành kho dữ liệu chung, cung cấp thông tin cập nhật về kinh tế - xã hội, chính sách thương mại, công nghiệp, năng lượng, đầu tư và các cơ hội giao thương tại các thị trường trên thế giới, qua đó hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trong công tác điều hành, đồng thời giúp doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng tiếp cận thông tin thị trường nhanh chóng và chính xác.

Theo đó, doanh nghiệp phải điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất. Khi mở rộng sang nhiều thị trường, yêu cầu về tiêu chuẩn, quy cách và thời gian giao hàng cũng trở nên đa dạng hơn. Điều này đòi hỏi hệ thống sản xuất linh hoạt hơn, chi phí vận hành có thể tăng trong ngắn hạn.

Và như vậy, áp lực tuân thủ sẽ tăng lên. Các thị trường lớn như Mỹ và châu Âu ngày càng siết chặt quy định về truy xuất nguồn gốc, môi trường và phát thải.

“EU đang triển khai cơ chế điều chỉnh biên giới carbon, kéo theo yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe”, ông Nguyễn Ngọc Linh cho biết.

Cùng với đó, bài toán nội địa hóa cũng trở nên cấp thiết hơn. Khi tham gia nhiều hiệp định thương mại, nếu không đáp ứng quy tắc xuất xứ, doanh nghiệp có thể không tận dụng được ưu đãi thuế quan.

Theo ông Linh, ở những ngành như: dệt may hay da giày, mức độ phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu vẫn còn cao… nếu không nâng được tỷ lệ nội địa hóa, nguy cơ mất ưu đãi thuế là hoàn toàn hiện hữu.

Như vậy, đa dạng hóa thị trường không chỉ là mở rộng địa lý mà còn kéo theo yêu cầu nâng cấp toàn diện năng lực sản xuất và chuỗi cung ứng.

Mặc dù đối mặt nhiều thách thức, việc xoay trục thị trường đã mang lại những lợi ích rõ rệt.

Trước hết là giảm rủi ro phụ thuộc. Khi một thị trường gặp biến động, doanh nghiệp vẫn có thể duy trì dòng đơn hàng từ các thị trường khác. Đây chính là “tấm đệm” quan trọng trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng khó đoán định.

Thứ hai, mở rộng dư địa tăng trưởng. Việc tiếp cận nhiều thị trường giúp doanh nghiệp không bị giới hạn bởi sức mua của một khu vực, đồng thời có cơ hội tìm kiếm phân khúc giá trị cao hơn.

Thứ ba, tạo động lực nâng cấp. Các yêu cầu khắt khe từ thị trường phát triển buộc doanh nghiệp phải cải thiện quản trị, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và đầu tư vào công nghệ.

“Những yêu cầu này đang buộc doanh nghiệp phải vận hành bài bản hơn, minh bạch hơn và từng bước nâng cấp hệ thống”, ông Linh nhận định.

Chia sẻ về các giải pháp doanh nghiệp đang triển khai trong bối cảnh áp lực chi phí gia tăng do tác động từ xung đột tại Trung Đông gây ra, bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng thư ký Hiệp hội Giày da Việt Nam cho biết, doanh nghiệp trong ngành đang triển khai một số giải pháp ứng phó như chia sẻ chi phí trong toàn chuỗi cung ứng, tiết giảm chi phí quản lý và đẩy mạnh tự động hóa…

Đặc biệt, các doanh nghiệp đang điều chỉnh chiến lược thị trường theo hướng gần hơn với nơi sản xuất.

Theo bà Xuân, các nhãn hàng đang có xu hướng đẩy mạnh đơn hàng tại các thị trường gần khu vực sản xuất, ví dụ tăng cường đơn hàng trong khu vực châu Á nhằm giảm chi phí logistics và rủi ro vận chuyển.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng cho quá trình này.

Chi phí là rào cản đầu tiên. Việc mở rộng thị trường đòi hỏi đầu tư vào nghiên cứu thị trường, xây dựng kênh phân phối và đáp ứng tiêu chuẩn mới. Trong khi đó, chi phí logistics của Việt Nam vẫn ở mức 16-18% GDP, cao hơn trung bình thế giới.

Năng lực quản trị cũng là một điểm nghẽn. Không ít doanh nghiệp vẫn tiếp cận thị trường mới theo kiểu “thử nghiệm”, thiếu chiến lược dài hạn, dẫn đến hiệu quả chưa cao.

Ngoài ra, việc chuyển đổi mô hình kinh doanh cũng đặt ra yêu cầu mới. Từ gia công (OEM) sang thiết kế (ODM) và xây dựng thương hiệu (OBM) là một hành trình dài, đòi hỏi sự tích lũy cả về vốn, kinh nghiệm và thị trường.

Từ góc độ chuỗi cung ứng, bà Nguyễn Dạ Quyên cho rằng, xu hướng đa dạng hóa không chỉ diễn ra ở cấp độ doanh nghiệp mà đã trở thành chiến lược toàn cầu.

“Các doanh nghiệp toàn cầu bắt đầu đa dạng hóa tuyến vận tải, phân tán mạng lưới sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ, thay vì phụ thuộc vào một hành lang hay một khu vực duy nhất”, bà Quyên cho hay.

Theo TS. Mạc Quốc Anh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và nhiều khu vực còn phức tạp, bên cạnh tăng cường quản trị rủi ro địa chính trị, rà soát hợp đồng, điều khoản thanh toán, bảo hiểm và đa dạng hóa đối tác, tuyến vận tải, các doanh nghiệp cần tái cấu trúc thị trường xuất khẩu, vừa duy trì Trung Đông vừa mở rộng sang Nam Á, châu Phi và ASEAN để phân tán rủi ro.

Ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, phải coi đa dạng hóa thị trường và đa dạng hóa rủi ro là yêu cầu chiến lược.

Trong bối cảnh thế giới còn tiềm ẩn nhiều xung đột, cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn, biến động về logistics và khả năng xuất hiện các rào cản phi thuế quan mới, nếu phụ thuộc quá lớn vào một vài thị trường hoặc một vài kênh phân phối, rủi ro sẽ rất lớn.

“Phát triển thị trường giai đoạn tới phải hướng tới việc vừa giữ chắc các thị trường lớn, vừa mở rộng sang các thị trường tiềm năng, vừa nâng mức hiện diện trong hệ thống bán lẻ hiện đại, thương mại điện tử xuyên biên giới và các chuỗi phân phối có khả năng nâng giá trị thương hiệu”, ông Nguyễn Minh Tiến nhấn mạnh.

Đối với Việt Nam, điều này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu.

Nhấn mạnh vai trò của việc tận dụng đồng bộ các hiệp định thương mại, ông Nguyễn Thanh Vân cho rằng: Cần đặt Hiệp định Thương mại điện tử trong mối quan hệ với các cam kết khác như: RCEP, CPTPP… nếu tận dụng tốt, doanh nghiệp Việt Nam có thể vừa giảm chi phí tuân thủ trong khu vực, vừa thuận lợi kết nối với các thị trường lớn.

Đa dạng hóa không loại bỏ hoàn toàn biến động nhưng có thể giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro và duy trì dòng chảy xuất khẩu. Khi những “cơn gió ngược” vẫn còn hiện hữu, đây có thể xem là một trong những hướng đi đáng chú ý để củng cố sức chống chịu của xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn tới.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 35,72 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ, song tăng trưởng giữa các nhóm hàng còn phân hóa. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao, đơn hàng chưa đồng đều và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, nâng năng suất, chủ động nguồn cung và cải thiện hiệu quả sản xuất là những điều kiện quan trọng để ngành dệt may duy trì đà tăng trưởng. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), phân tích sâu hơn về triển vọng cuối năm, nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Đến ngày 15/10/2026, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 481,37 tỷ USD, tăng 37,2% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực đến từ máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, cùng máy móc, thiết bị và nhiều nhóm nguyên liệu. Đà tăng này mở ra khả năng nhập khẩu cả năm vượt 600 tỷ USD, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giá trị gia tăng trong nước.
Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Các vụ điều tra mới, rà soát và áp thuế phòng vệ thương mại trong quý III/2026 tiếp tục đặt doanh nghiệp xuất khẩu hàng Việt Nam trước yêu cầu nâng cao năng lực ứng phó. Đồng thời, việc sử dụng công cụ phòng vệ tại thị trường nội địa cho thấy bảo vệ sản xuất phải gắn với hồ sơ đầy đủ, dữ liệu minh bạch và khả năng cạnh tranh thực chất.
Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, phát triển thị trường đa kênh trở thành yêu cầu cấp thiết với doanh nghiệp Việt Nam. Hội thảo do Cục Xúc tiến Thương mại tổ chức tạo diễn đàn trao đổi giải pháp, kết nối nguồn lực, củng cố đầu ra, giúp hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.
Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam duy trì đà tăng trưởng nhờ lượng hàng xuất khẩu gia tăng, trong khi giá bình quân vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước. Áp lực giảm giá đặt ra yêu cầu nâng chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu và mở rộng thị trường để giữ đà tăng trưởng, cải thiện giá trị xuất khẩu.
Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Trong chặng nước rút hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, xuất khẩu cần chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả. Tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, logistics, thị trường, đồng thời củng cố năng lực doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị nội địa là yêu cầu then chốt để xuất khẩu bứt tốc, đóng góp bền vững cho nền kinh tế.
Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, Việt Nam nhập khẩu 203.600 ô tô nguyên chiếc, kim ngạch gần 4,7 tỷ USD, tăng 24,5% về lượng và 29,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, thị trường Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai về số lượng và giữ ưu thế về kim ngạch.
Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam hiện nay còn lớn, nhưng khả năng khai thác phụ thuộc vào năng lực cung ứng sản phẩm đạt chuẩn và đáp ứng yêu cầu xanh. Làm chủ vật liệu, liên kết sản xuất và xây dựng dữ liệu phát thải đang trở thành những nhiệm vụ gắn trực tiếp với sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu cơ khí trên thị trường quốc tế.
Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Trước sức ép cạnh tranh toàn cầu, chuyển đổi số trở thành yêu cầu cấp thiết với ngành dệt may Việt Nam, Hội thảo của VITAS tại HanoiTex - HanoiFabric 2026 gợi mở giải pháp từ đổi mới công nghệ đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, kinh doanh, giúp doanh nghiệp nâng năng suất, thích ứng thị trường và tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Chín tháng năm 2026, thương mại hai chiều Việt Nam - Singapore đạt gần 42,8 tỷ SGD (tương đương khoảng 33,5 tỷ USD), tăng 46,8% so với cùng kỳ. Đà tăng trưởng cho thấy giao thương giữa hai nước tiếp tục mở rộng, đồng thời tạo thêm cơ hội để hàng hóa Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối khu vực.
Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thị trường thương mại điện tử (TMĐT) Đông Nam Á đang mở rộng, với doanh số vượt 200 tỷ USD và dòng chi tiêu hàng ngoại lên tới 23-24 tỷ USD. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, đây là cơ hội để mở rộng kênh bán hàng và tiếp cận người tiêu dùng khu vực. Khả năng tận dụng cơ hội phụ thuộc vào việc lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp, đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì chất lượng sản phẩm.
Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu, cán cân thương mại hàng hóa tháng 9/2026 đã xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD. Đây là tín hiệu tích cực trong chặng nước rút cuối năm, song chưa làm thay đổi hoàn toàn bức tranh thương mại khi tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD và nhập khẩu tiếp tục tăng nhanh hơn xuất khẩu. Vấn đề cần quan tâm không chỉ là trạng thái của cán cân thương mại, mà còn là khả năng chuyển hóa dòng hàng đầu vào phục vụ sản xuất và yêu cầu về nâng cao năng lực cung ứng nội địa để đạt được giá trị gia tăng cao hơn.
Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh không còn là xu hướng khuyến khích mà đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với doanh nghiệp cơ khí - điện, khi các tiêu chuẩn về môi trường, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng khắt khe.
Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Trong bối cảnh xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng trưởng mạnh, việc Hải quan Singapore cập nhật quy trình Chứng nhận nhập khẩu và Xác minh giao hàng (ICDV) đặt ra yêu cầu doanh nghiệp chủ động kiểm soát chứng từ, phối hợp với đối tác và tuân thủ thời hạn xử lý hồ sơ. Đây là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ chậm thông quan, phát sinh chi phí và bảo đảm hoạt động xuất khẩu thông suốt.
Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Năm 2026, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xuất khẩu tiếp tục là một trong những động lực quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Sau ba phần tư chặng đường, đà tăng trưởng thương mại tạo tiền đề cho những tháng cuối năm, đồng thời đặt ra yêu cầu nhìn nhận thấu đáo chất lượng tăng trưởng và khả năng đóng góp của xuất khẩu đối với nền kinh tế. Bước vào chặng nước rút, việc phát huy lợi thế các ngành hàng chủ lực, khai thác dư địa thị trường và tháo gỡ điểm nghẽn cần gắn với nâng cao năng lực sản xuất trong nước, gia tăng giá trị hàng hóa và chủ động thích ứng với yêu cầu của thị trường quốc tế; qua đó tạo cơ sở để chuyển hóa đà tăng trưởng thương mại thành nguồn lực củng cố nội lực và sức tự chủ của nền kinh tế.

Đọc nhiều

quy-dinh-ve-dang-bai-gioi-thieu-cong-bo-ket-qua-nghien-cuu-tren-tap-chi-kinh-te-tai-chinh
vietnam-post-avinh-13-10-13-11
toan-phat-group-2026
cty-cp-dai-phuc
acca-dung-24-10-30-11
tap-doan-than-khoang-san
agribank
phan-mem-ecus5
thong-bao
cong-ty-tnhh-thuong-mai-va-dich-vu-eco-patuo-viet-nam
chi-lan-viettel-2-tuan-22-10-6-11
qc-demo-3
qc-demo-4
qc-demo