Thứ bảy 24/10/2026 06:45
Thời tiết: Hà Nội 26°C
Đà Nẵng 24°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 26°C
TP Hồ Chí Minh 25°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Sức ép PFC và cơ hội định hình thế hệ doanh nghiệp xuất khẩu mới

Thái Hằng (Thực hiện)
Tại Báo cáo đặc biệt 301 năm 2026 vừa được công bố, Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đưa Việt Nam vào nhóm “Quốc gia nước ngoài ưu tiên” (PFC). Theo cơ chế của Hoa Kỳ, đây là bước khởi đầu cho giai đoạn xem xét kéo dài 30 ngày trước khi quyết định có mở điều tra theo Mục 301 hay không. Dưới góc nhìn chuỗi cung ứng và sản xuất thông minh, bà Nguyễn Dạ Quyên, Giám đốc Công ty tư vấn quản trị chuỗi cung ứng CEL cho rằng, PFC không chỉ là thách thức, mà còn là “cú hích”, cơ hội định hình thế hệ doanh nghiệp xuất khẩu mới.
Sức ép PFC và cơ hội định hình thế hệ doanh nghiệp xuất khẩu mới
Sức ép PFC và cơ hội định hình thế hệ doanh nghiệp xuất khẩu mới. Ảnh minh hoạ.

PFC chưa phải là một bản án

Sau khi USTR công bố báo cáo, dư luận trong nước có phần lo ngại. Bà đánh giá ra sao về tác động của nhãn PFC?

PFC nghe có vẻ rất nặng nề nhưng về mặt pháp lý, theo Mục 182 của Đạo luật Thương mại năm 1974, đây mới là bước mở đầu của một quy trình, chưa phải kết luận cuối cùng. USTR vẫn còn 30 ngày để cân nhắc có khởi xướng điều tra theo Mục 301 hay không. Điều đó có nghĩa là cánh cửa đối thoại vẫn đang rộng mở.

Sức ép PFC và cơ hội định hình thế hệ doanh nghiệp xuất khẩu mới

Có 3 việc doanh nghiệp Việt Nam nên làm ngay. Đầu tiên là rà soát hồ sơ tuân thủ. Thứ hai là mở rộng đối thoại theo cả hai hướng: trong nước và quốc tế. Trong nước, doanh nghiệp nên chủ động tham gia các kênh của VCCI, Bộ Công Thương và hiệp hội ngành hàng. Quốc tế, cần trao đổi minh bạch với các khách hàng Hoa Kỳ về mức độ phơi nhiễm thuế, năng lực tuân thủ và lộ trình cải thiện. Cuối cùng, doanh nghiệp cần xem đây là cơ hội để tăng tốc chuyển đổi sang mô hình sản xuất thông minh và bền vững.

Bà Nguyễn Dạ Quyên

Tôi cho rằng, phản ứng của Việt Nam trong những ngày qua là rất kịp thời. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao cùng Công điện số 38/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã phát đi thông điệp rõ ràng rằng Chính phủ xem đây là vấn đề ưu tiên.

Ở góc độ kinh tế, quy mô thương mại song phương cũng cho thấy cả hai bên đều có lợi ích trong việc duy trì ổn định. Số liệu thống kê của Cục Hải quan (Bộ Tài chính) cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2025 đạt 153,18 tỷ USD, tăng 28,2% so với năm 2024.

Trong 4 tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ tiếp tục là điểm đến xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch 53,9 tỷ USD. Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, xuất siêu sang thị trường này đạt khoảng 46,9 tỷ USD, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm 2025.

Không nhiều quốc gia từng bị xếp vào nhóm PFC, theo bà Việt Nam có thể rút ra bài học gì từ các tiền lệ trước đây?

Sau khi WTO ra đời năm 1994, theo dữ liệu công khai của USTR và phân tích của InfoJustice, chỉ có ba quốc gia từng bị xếp PFC gồm Trung Quốc (1996), Paraguay (1998) và Ukraine (2001-2005, sau đó tái xếp năm 2013).

Mỗi trường hợp đều có diễn biến khác nhau nhưng đều mang lại bài học đáng chú ý.

Paraguay là ví dụ điển hình cho giá trị của đối thoại có cấu trúc. Tháng 11/1998, nước này ký Bản ghi nhớ (MOU) với Hoa Kỳ về thực thi sở hữu trí tuệ, sau đó USTR tạm dừng điều tra theo Mục 301. Dù Paraguay vẫn bị giám sát trong nhiều năm tiếp theo nhưng quan hệ song phương được duy trì trong khuôn khổ hợp tác thay vì đối đầu.

Trong khi đó, Ukraine cho thấy hiệu quả của cải cách pháp lý mang tính hệ thống. Năm 2001, Ukraine bị xếp PFC do tình trạng đĩa CD lậu. Đến năm 2005, sau khi Quốc hội nước này sửa đổi Luật Đĩa Quang Tia Laser, Hoa Kỳ đã gỡ bỏ biện pháp trừng phạt và hạ Ukraine xuống danh sách Priority Watch List.

Điểm đáng chú ý là USTR ghi nhận rất rõ các thay đổi lập pháp cụ thể. Đây là tín hiệu tích cực với Việt Nam, bởi chúng ta có lợi thế về tốc độ ban hành chính sách và khả năng điều phối tập trung.

Năm nay, USTR đã đưa Argentina và Mexico ra khỏi danh sách ưu tiên. Đây là phần rất đáng để doanh nghiệp Việt Nam theo dõi.

Theo USTR, Argentina được hạ bậc sau khi ký Hiệp định Thương mại Có đi Có lại với Hoa Kỳ vào tháng 2/2026, kèm các cam kết cụ thể về bằng sáng chế dược phẩm và chống hàng giả. Mexico được ghi nhận nhờ ban hành quy định mới về bảo vệ dữ liệu thử nghiệm dược phẩm.

Điểm chung ở cả hai trường hợp là các bước đi cụ thể, có thời hạn rõ ràng, có thể đo lường được và đặc biệt là được triển khai trước thời điểm USTR hoàn tất báo cáo. Điều đó cho thấy cơ chế Special 301 phản ứng khá mạnh với các tín hiệu cải cách thực chất.

“30 ngày hành động” cho doanh nghiệp Việt

Dưới góc nhìn chuỗi cung ứng và sản xuất thông minh, theo bà, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động chuẩn bị và có giải pháp ứng phó ra sao?

Theo tôi, có 3 hướng rất quan trọng, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ nhất là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Hiện gần 30% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc vào thị trường Hoa Kỳ. Trong khi đó, các FTA thế hệ mới như EVFTA, CPTPP, RCEP hay UKVFTA đang mở ra dư địa lớn để doanh nghiệp giảm rủi ro tập trung thị trường và cải thiện biên lợi nhuận.

Thứ hai là số hóa hồ sơ chuỗi cung ứng. Các nhà mua quốc tế hiện yêu cầu khả năng truy xuất nguồn gốc rất nhanh, đôi khi chỉ trong 24-48 giờ.

Doanh nghiệp nào đã có hệ thống ERP (hệ thống quản lý thông tin, tự động hóa quy trình), MES (Hệ thống điều hành sản xuất) và dữ liệu chuỗi cung ứng số hóa sẽ vượt qua các đợt kiểm toán dễ dàng hơn rất nhiều.

Thứ ba là nâng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa. Đây là yếu tố cốt lõi để doanh nghiệp củng cố vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khi tỷ lệ nội địa hóa cao hơn, hồ sơ xuất xứ minh bạch hơn và khả năng đàm phán với đối tác quốc tế cũng tốt hơn.

Một nghiên cứu của Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ (USITC) năm 2023 cho thấy, với các biện pháp Mục 301 áp lên Trung Quốc, giá nhập khẩu tăng gần như tương ứng với mức thuế. Điều này có ý nghĩa gì với doanh nghiệp Việt Nam, thưa bà?

Đây là một phát hiện kinh tế lượng rất quan trọng từ một cơ quan độc lập của Hoa Kỳ.

Báo cáo đặc biệt 301 năm 2026 được USTR công bố ngày 30/04/2026, trong đó đặt Việt Nam vào nhóm PFC. Động thái này lập tức thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh kim ngạch thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đang ở mức cao.

Chỉ ít ngày sau công bố của USTR, phía Việt Nam đã có những phản ứng chính sách phù hợp như: ngày 4/5, Bộ Ngoại giao đề nghị Hoa Kỳ “đánh giá khách quan và cân bằng” những tiến bộ của Việt Nam; ngày 5/5, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 38/CĐ-TTg, đặt mục tiêu tăng tối thiểu 20% số vụ xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ.

Nghiên cứu cho thấy, phần lớn chi phí thuế cuối cùng đã phản ánh vào giá hàng nhập khẩu. American Action Forum từng ước tính tác động này có thể lên tới khoảng 48 tỷ USD mỗi năm đối với người tiêu dùng Hoa Kỳ ở giai đoạn cao điểm.

Với doanh nghiệp Việt Nam, điều này mang lại hai hàm ý.

Thứ nhất, dữ liệu kinh tế độc lập là cơ sở quan trọng cho các cuộc tham vấn chính sách và đàm phán thương mại.

Thứ hai, với những ngành Việt Nam đã có vị thế tương đối vững tại thị trường Hoa Kỳ như: giày thể thao, đồ gỗ hay điện tử tiêu dùng, đây lại là thời điểm phù hợp để đầu tư nâng cấp năng lực sản xuất, hệ thống quản trị chất lượng và tiêu chuẩn tuân thủ quốc tế.

Về dài hạn, năng lực nội tại mới là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh bền vững.

Trong 30 ngày hành động, bà có khuyến nghị gì đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam?

Theo tôi, có ba việc doanh nghiệp Việt Nam nên làm ngay. Đầu tiên là rà soát hồ sơ tuân thủ. Doanh nghiệp cần kiểm tra bản quyền phần mềm đang sử dụng, đăng ký nhãn hiệu tại Hoa Kỳ cho các dòng sản phẩm chủ lực, đồng thời chuẩn hóa hồ sơ xuất xứ linh kiện cho từng mã hàng.

Thứ hai là mở rộng đối thoại theo cả hai hướng: trong nước và quốc tế. Trong nước, doanh nghiệp nên chủ động tham gia các kênh của VCCI, Bộ Công Thương và hiệp hội ngành hàng. Quốc tế, cần trao đổi minh bạch với các khách hàng Hoa Kỳ về mức độ phơi nhiễm thuế, năng lực tuân thủ và lộ trình cải thiện.

Trong thực tế, khi nhà mua Hoa Kỳ hiểu rõ năng lực của nhà cung cấp Việt Nam, họ thường chủ động phản hồi thông tin qua các kênh tham vấn công khai của USTR. Đây là cách tiếng nói của doanh nghiệp Việt Nam được khuếch đại thông qua chính đối tác quốc tế.

Cuối cùng, doanh nghiệp cần xem đây là cơ hội để tăng tốc chuyển đổi sang mô hình sản xuất thông minh và bền vững. Các tiêu chuẩn về minh bạch chuỗi cung ứng và truy xuất nguồn gốc đang trở thành xu hướng toàn cầu, không chỉ riêng tại Hoa Kỳ.

Việt Nam đã xác định đây là ưu tiên quốc gia từ nhiều năm nay. Nếu tận dụng tốt giai đoạn hiện tại, chúng ta hoàn toàn có thể biến áp lực ngắn hạn thành động lực nâng cấp dài hạn cho toàn bộ nền sản xuất.

Trân trọng cảm ơn bà!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 35,72 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ, song tăng trưởng giữa các nhóm hàng còn phân hóa. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao, đơn hàng chưa đồng đều và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, nâng năng suất, chủ động nguồn cung và cải thiện hiệu quả sản xuất là những điều kiện quan trọng để ngành dệt may duy trì đà tăng trưởng. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), phân tích sâu hơn về triển vọng cuối năm, nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Đến ngày 15/10/2026, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 481,37 tỷ USD, tăng 37,2% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực đến từ máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, cùng máy móc, thiết bị và nhiều nhóm nguyên liệu. Đà tăng này mở ra khả năng nhập khẩu cả năm vượt 600 tỷ USD, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giá trị gia tăng trong nước.
Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Các vụ điều tra mới, rà soát và áp thuế phòng vệ thương mại trong quý III/2026 tiếp tục đặt doanh nghiệp xuất khẩu hàng Việt Nam trước yêu cầu nâng cao năng lực ứng phó. Đồng thời, việc sử dụng công cụ phòng vệ tại thị trường nội địa cho thấy bảo vệ sản xuất phải gắn với hồ sơ đầy đủ, dữ liệu minh bạch và khả năng cạnh tranh thực chất.
Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, phát triển thị trường đa kênh trở thành yêu cầu cấp thiết với doanh nghiệp Việt Nam. Hội thảo do Cục Xúc tiến Thương mại tổ chức tạo diễn đàn trao đổi giải pháp, kết nối nguồn lực, củng cố đầu ra, giúp hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.
Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam duy trì đà tăng trưởng nhờ lượng hàng xuất khẩu gia tăng, trong khi giá bình quân vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước. Áp lực giảm giá đặt ra yêu cầu nâng chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu và mở rộng thị trường để giữ đà tăng trưởng, cải thiện giá trị xuất khẩu.
Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Trong chặng nước rút hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, xuất khẩu cần chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả. Tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, logistics, thị trường, đồng thời củng cố năng lực doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị nội địa là yêu cầu then chốt để xuất khẩu bứt tốc, đóng góp bền vững cho nền kinh tế.
Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, Việt Nam nhập khẩu 203.600 ô tô nguyên chiếc, kim ngạch gần 4,7 tỷ USD, tăng 24,5% về lượng và 29,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, thị trường Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai về số lượng và giữ ưu thế về kim ngạch.
Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam hiện nay còn lớn, nhưng khả năng khai thác phụ thuộc vào năng lực cung ứng sản phẩm đạt chuẩn và đáp ứng yêu cầu xanh. Làm chủ vật liệu, liên kết sản xuất và xây dựng dữ liệu phát thải đang trở thành những nhiệm vụ gắn trực tiếp với sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu cơ khí trên thị trường quốc tế.
Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Trước sức ép cạnh tranh toàn cầu, chuyển đổi số trở thành yêu cầu cấp thiết với ngành dệt may Việt Nam, Hội thảo của VITAS tại HanoiTex - HanoiFabric 2026 gợi mở giải pháp từ đổi mới công nghệ đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, kinh doanh, giúp doanh nghiệp nâng năng suất, thích ứng thị trường và tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Chín tháng năm 2026, thương mại hai chiều Việt Nam - Singapore đạt gần 42,8 tỷ SGD (tương đương khoảng 33,5 tỷ USD), tăng 46,8% so với cùng kỳ. Đà tăng trưởng cho thấy giao thương giữa hai nước tiếp tục mở rộng, đồng thời tạo thêm cơ hội để hàng hóa Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối khu vực.
Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thị trường thương mại điện tử (TMĐT) Đông Nam Á đang mở rộng, với doanh số vượt 200 tỷ USD và dòng chi tiêu hàng ngoại lên tới 23-24 tỷ USD. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, đây là cơ hội để mở rộng kênh bán hàng và tiếp cận người tiêu dùng khu vực. Khả năng tận dụng cơ hội phụ thuộc vào việc lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp, đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì chất lượng sản phẩm.
Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu, cán cân thương mại hàng hóa tháng 9/2026 đã xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD. Đây là tín hiệu tích cực trong chặng nước rút cuối năm, song chưa làm thay đổi hoàn toàn bức tranh thương mại khi tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD và nhập khẩu tiếp tục tăng nhanh hơn xuất khẩu. Vấn đề cần quan tâm không chỉ là trạng thái của cán cân thương mại, mà còn là khả năng chuyển hóa dòng hàng đầu vào phục vụ sản xuất và yêu cầu về nâng cao năng lực cung ứng nội địa để đạt được giá trị gia tăng cao hơn.
Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh không còn là xu hướng khuyến khích mà đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với doanh nghiệp cơ khí - điện, khi các tiêu chuẩn về môi trường, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng khắt khe.
Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Trong bối cảnh xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng trưởng mạnh, việc Hải quan Singapore cập nhật quy trình Chứng nhận nhập khẩu và Xác minh giao hàng (ICDV) đặt ra yêu cầu doanh nghiệp chủ động kiểm soát chứng từ, phối hợp với đối tác và tuân thủ thời hạn xử lý hồ sơ. Đây là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ chậm thông quan, phát sinh chi phí và bảo đảm hoạt động xuất khẩu thông suốt.
Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Năm 2026, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xuất khẩu tiếp tục là một trong những động lực quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Sau ba phần tư chặng đường, đà tăng trưởng thương mại tạo tiền đề cho những tháng cuối năm, đồng thời đặt ra yêu cầu nhìn nhận thấu đáo chất lượng tăng trưởng và khả năng đóng góp của xuất khẩu đối với nền kinh tế. Bước vào chặng nước rút, việc phát huy lợi thế các ngành hàng chủ lực, khai thác dư địa thị trường và tháo gỡ điểm nghẽn cần gắn với nâng cao năng lực sản xuất trong nước, gia tăng giá trị hàng hóa và chủ động thích ứng với yêu cầu của thị trường quốc tế; qua đó tạo cơ sở để chuyển hóa đà tăng trưởng thương mại thành nguồn lực củng cố nội lực và sức tự chủ của nền kinh tế.

Đọc nhiều

quy-dinh-ve-dang-bai-gioi-thieu-cong-bo-ket-qua-nghien-cuu-tren-tap-chi-kinh-te-tai-chinh
vietnam-post-avinh-13-10-13-11
toan-phat-group-2026
cty-cp-dai-phuc
acca-dung-24-10-30-11
tap-doan-than-khoang-san
agribank
phan-mem-ecus5
thong-bao
cong-ty-tnhh-thuong-mai-va-dich-vu-eco-patuo-viet-nam
chi-lan-viettel-2-tuan-22-10-6-11
qc-demo-3
qc-demo-4
qc-demo