![]() |
| Rủi ro địa chính trị tác động khiến thị trường tiêu thụ biến động khó lường, thời gian giao hàng kéo dài và dòng tiền của doanh nghiệp chịu áp lực lớn hơn. Ảnh: Internet |
Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mới trước những biến động địa chính trị, xu thế bảo hộ thương mại trên thế giới. Không chỉ làm gia tăng chi phí logistics và nguyên liệu đầu vào, các rủi ro địa chính trị còn khiến thị trường tiêu thụ biến động khó lường, thời gian giao hàng kéo dài và dòng tiền của doanh nghiệp chịu áp lực lớn hơn.
“Cú sốc” tác động cả đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp
Xung đột tại Trung Đông thời gian qua đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng, tăng giá dịch vụ vận tải, tăng chi phí sản xuất, chi phí hàng hóa, các chi phí kinh doanh khác, gây sức ép lạm phát, dẫn đến xu hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất, luồng thương mại quốc tế…
Đánh giá của Chính phủ tại phiên họp thường kỳ tháng 4/2026 cho biết, tình hình thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự leo thang và kéo dài ở nhiều khu vực, nhất là tại Trung Đông, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cung, giá nhiên liệu, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, tiềm ẩn rủi ro suy giảm tăng trưởng.
Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), hiện nay bối cảnh thị trường quốc tế được dự báo sẽ phức tạp hơn, kéo theo những thách thức mới đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Những biến động của thị trường toàn cầu, điển hình là xung đột Trung Đông hiện nay đang làm gia tăng áp lực chi phí trong quá trình sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp do giá giá dầu thô tăng đột biến, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, chi phí logistics, chi phí bảo hiểm xuất khẩu tăng, kéo theo sự gia tăng chi phí trong toàn bộ chuỗi cung ứng, buộc doanh nghiệp phải tính toán lại phương án sản xuất, tiêu thụ và quản trị rủi ro.
“Về logistics và vận tải, các xung đột địa chính trị tại một số khu vực trên thế giới đang gây ra những tác động rất lớn. Dù xung đột có thể xảy ra ở một khu vực không quá rộng, nhưng ảnh hưởng đối với vận tải biển lại rất đáng kể. Trong thời gian gần đây, nhiều tàu hàng từ Việt Nam đi châu Âu phải thay đổi tuyến đường, đi vòng qua những khu vực xa hơn để bảo đảm an toàn. Điều này làm cho thời gian vận chuyển kéo dài thêm khoảng hai tuần, đồng thời chi phí vận tải cũng tăng lên đáng kể”, ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh.
Theo Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), xung đột tại Trung Đông đang tạo ra sức ép lớn, đa chiều và có xu hướng lan rộng đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Kết quả khảo sát của Ban IV thực hiện trong tháng 3/2026 với 228 doanh nghiệp tham gia khảo sát cho thấy tác động của xung đột không còn dừng ở mức rủi ro tiềm ẩn mà đã chuyển hóa thành áp lực thực tế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Có 62,7% doanh nghiệp khảo sát đánh giá xung đột đang ảnh hưởng ở mức lớn hoặc rất lớn đến hoạt động kinh doanh hiện tại.
Bên cạnh đó, chi phí đầu vào gia tăng đang tác động trực tiếp và mạnh nhất tới sản xuất kinh doanh trong nước, bắt đầu bào mòn dòng tiền và biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Có tới 87,7% doanh nghiệp khảo sát cho biết chi phí đầu vào tăng, trong đó 50,4% đánh giá tăng mạnh.
Nguyên nhân chính đến từ giá năng lượng, giá nguyên vật liệu, chi phí logistics và chi phí tài chính. Trong đó, các doanh nghiệp logistics - vận tải, thương mại - xuất nhập khẩu, sản xuất công nghiệp và xây dựng là những nhóm chịu áp lực lớn hơn cả.
|
53,5% doanh nghiệp khảo sát cho biết bị giảm đơn hàng tại các thị trường xuất khẩu, chủ yếu tại châu Á và Trung Đông. Điều này cho thấy cú sốc không chỉ tác động đến đầu vào mà đã bắt đầu lan sang đầu ra, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện đơn hàng, năng lực cạnh tranh và khả năng duy trì thị trường của một bộ phận đáng kể doanh nghiệp. |
Kết quả này cho thấy nếu không có giải pháp ứng phó phù hợp, áp lực chi phí có thể tiếp tục lan sang giá thành, lợi nhuận, dòng tiền, khả năng duy trì đơn hàng và sức chống chịu của doanh nghiệp nói chung.
Bên cạnh đó, gián đoạn vận tải quốc tế, logistics và suy giảm đầu ra đang làm gia tăng tính dễ tổn thương của doanh nghiệp. Khảo sát cho thấy 52,2% doanh nghiệp đã bị ảnh hưởng bởi gián đoạn vận tải quốc tế và logistics; biểu hiện rõ nhất là giá cước vận tải tăng, thời gian vận chuyển kéo dài và phát sinh thêm chi phí giao nhận. Phần lớn doanh nghiệp ghi nhận chi phí logistics tăng từ 5 - 15%, đặc biệt có 8,1% doanh nghiệp cho biết chi phí logistics tăng trên 30%.
Loạt áp lực đè nặng lên các ngành hàng xuất khẩu
Chia sẻ từ góc độ doanh nghiệp, ông Thân Đức Việt, Tổng giám đốc Công ty May 10 cho biết, giá dầu tăng đang tạo ra ba áp lực chính đối với ngành dệt may nói chung và May 10 nói riêng.
Áp lực đầu tiên là chi phí logistics và vận chuyển tăng mạnh, cả vận chuyển trong nước và vận chuyển xuất khẩu đều ghi nhận xu hướng tăng giá. Một số doanh nghiệp vận tải đã đề nghị điều chỉnh mức phí vận chuyển tăng trên 30%, gây áp lực đáng kể lên chi phí trực tiếp của doanh nghiệp.
![]() |
| Nhiều ngành hàng xuất khẩu đang chịu áp lực lớn từ biến động thị trường. Ảnh: Internet |
“Bên cạnh đó, chi phí nguyên vật liệu đầu vào có xu hướng tăng theo chi phí vận chuyển. Từ đầu tháng 4, nhiều nhà cung cấp đã thông báo kế hoạch điều chỉnh giá nguyên vật liệu, làm gia tăng thêm áp lực chi phí sản xuất”, ông Việt nói.
Áp lực thứ ba là nguy cơ tăng giá nguyên liệu có nguồn gốc từ dầu mỏ trong trung và dài hạn khi có khoảng 30 - 40% nguyên liệu của ngành may mặc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ.
Chia sẻ từ ngành hàng giày da, bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng thư ký Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam cho biết, trong thời gian qua, ngành da giày đã liên tiếp đối mặt với nhiều cú sốc, từ đại dịch Covid-19, các xung đột thương mại, cho đến những căng thẳng địa chính trị gần đây.
|
"Là ngành có tới 90% sản lượng phụ thuộc vào xuất khẩu, bất kỳ biến động nào từ thị trường bên ngoài cũng có thể tạo ra rủi ro lớn và khiến ngành trở nên dễ tổn thương. Đối với xung đột tại Trung Đông, trong ngắn hạn tác động chưa quá lớn, bởi nhiều đơn hàng đã được ký kết từ cuối năm trước và nguyên liệu đã được nhập khẩu và lưu kho. Tuy nhiên, nếu tình hình kéo dài, những đơn hàng trong giai đoạn tiếp theo sẽ chịu ảnh hưởng rõ rệt hơn, đặc biệt là về chi phí”. Bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng thư ký Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam. |
Theo bà Xuân, đối với các diễn biến tại khu vực Trung Đông, tác động đầu tiên được ghi nhận là việc gián đoạn thị trường xuất khẩu sang Trung Đông, đồng thời ảnh hưởng đến các trung tâm trung chuyển hàng hóa sang châu Phi. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp mất đi một phần thị trường tiêu thụ trong ngắn hạn.
Cùng với đó, chi phí logistics cũng tăng mạnh khoảng 8 - 15%, nhiều loại nguyên liệu đầu vào có nguồn gốc từ dầu mỏ cũng ghi nhận mức tăng giá khoảng 30%.
Theo ông Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), doanh nghiệp hiện đang chịu áp lực trong tình trạng “ba kẹp”: chi phí đầu vào tăng cao, thị trường đầu ra suy yếu, thời gian logistics kéo dài.
Đơn cử, tình hình vận tải logistics và thời gian giao hàng bị kéo dài đáng kể. Trước đây, thời gian vận chuyển thông thường khoảng 5 - 10 ngày, nay có thể kéo dài thêm từ 14 - 20 ngày, làm chi phí tăng lên rõ rệt. Đồng thời, thị trường đầu ra cũng suy yếu, do nhiều nền kinh tế khác gặp khó khăn tương tự, dẫn đến nhu cầu giảm. Đặc biệt, xuất khẩu sang khu vực Trung Đông giảm trên 50%.
Tác động “kép”
Theo đại diện Bộ Công Thương, bên cạnh tác động tiêu cực từ xung đột, hoạt động xuất khẩu hiện cũng đối mặt với xu hướng thắt chặt chi tiêu và ưu tiên tiết kiệm khi thế giới bất ổn. Điều này dẫn đến tổng cầu giảm, khiến hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt hơn, không chỉ với sản phẩm của các nước khác mà còn với chính các doanh nghiệp trong cùng ngành.
Dưới góc độ thị trường, xuất khẩu của Việt Nam cũng đang chịu tác động không nhỏ từ sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ thương mại và các biện pháp phòng vệ thương mại.
“Các biện pháp như chống bán phá giá, chống trợ cấp hoặc áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Điều này tạo ra những rào cản mới đối với hàng hóa xuất khẩu, trong đó có hàng hóa của Việt Nam”, ông Trần Thanh Hải lưu ý.
Theo các chuyên gia của Ban IV, những tác động tới các doanh nghiệp xuất khẩu cho thấy khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa đang có dư địa ứng phó tương đối hạn chế trước các cú sốc đồng thời về chi phí, logistics, đơn hàng và vốn.
Kết quả khảo sát của Ban IV cho thấy, tác động của xung đột đã bắt đầu ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý đầu tư, khả năng tiếp cận vốn và điều kiện tài chính của doanh nghiệp.
| Có 64,5% doanh nghiệp kháo sát cho biết đã phải hoãn hoặc điều chỉnh kế hoạch đầu tư. Đồng thời, các áp lực tài chính được doanh nghiệp ghi nhận ngày càng rõ hơn, gồm chi phí lãi vay gia tăng, khó khăn trong tiếp cận vốn, biến động tỷ giá và áp lực thanh toán quốc tế. Trong bối cảnh đó, phần lớn doanh nghiệp tự đánh giá khả năng chống chịu chỉ ở mức trung bình (59,3%), trong khi 23,7% cho rằng khả năng chống chịu ở mức thấp. |
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia quốc tế và trong nước, xung đột địa chính trị không phải là các sự kiện có tính “ngắn hạn, trước mắt” mà có thể trở thành trạng thái kéo dài, gắn với sự hình thành một “trật tự thế giới mới” với nhiều yếu tố rủi ro và bất định.
Trong bối cảnh đó, việc sớm có các giải pháp hỗ trợ phù hợp về bình ổn chi phí đầu vào, logistics, thông tin thị trường và chuỗi cung ứng là cần thiết nhằm giảm áp lực cho doanh nghiệp và củng cố khả năng ứng phó trong thời gian tới.
Cùng với đó, các giải pháp để củng cố khả năng ứng phó dài hạn của hoạt động xuất khẩu nói chung trước những biến động của thị trường cần phải được kích hoạt đồng bộ và khẩn trương.