![]() |
| Qua thực tiễn công tác kiểm tra, Thuế TP. Hà Nội đã phát hiện nhiều thủ đoạn gian lận tinh vi |
Doanh nghiệp “vỏ bọc” đến xe trùng số khung, số máy bị lật tẩy
Trong cấu trúc vận hành kinh tế, hoàn thuế GTGT đóng vai trò như một đòn bẩy tài chính, giúp tái tạo dòng tiền và duy trì sự ổn định cho doanh nghiệp, đặc biệt là trong các lĩnh vực trọng yếu như xuất khẩu và đầu tư.
Tại Thuế TP. Hà Nội, thực trạng công tác này phản ánh rất rõ nét “nhịp đập” của nền kinh tế. Theo số liệu thống kê, hồ sơ hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu chiếm tỷ trọng áp đảo với 64,6% tổng số hồ sơ. Điều này phản ánh đúng bản chất của cơ chế thuế suất 0% nhằm khuyến khích đưa hàng hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế, đồng thời khẳng định vai trò của hoàn thuế như một công cụ hỗ trợ thanh khoản, tái tạo dòng tiền cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Tuy nhiên, tỷ trọng cả về số lượng và giá trị đều ở mức rất cao cũng đồng nghĩa với việc đây là khu vực tiềm ẩn rủi ro lớn, đòi hỏi cơ quan thuế phải tăng cường phân tích hồ sơ, đối chiếu dữ liệu liên ngành và áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro chặt chẽ.
Đối với nhóm hồ sơ hoàn thuế dự án đầu tư tuy chỉ chiếm 0,8% về số lượng nhưng số tiền đề nghị hoàn rất lớn, phản ánh quy mô vốn đầu tư tập trung và những đặc thù phát sinh thuế GTGT đầu vào tập trung vào giai đoạn đầu tư.
Đáng chú ý, cách thức vận hành quản lý theo rủi ro đã đem lại hiệu quả cao trong công tác xử lý hồ sơ hoàn thuế. Tỷ lệ hồ sơ được hoàn thực tế đã giảm xuống còn 86,6%. Con số này cho thấy cơ quan Thuế đã tăng cường kiểm soát, siết chặt kỷ luật hoàn thuế, nhất là đối với các hồ sơ có dấu hiệu rủi ro, qua đó góp phần hạn chế tình trạng lợi dụng chính sách để gian lận, chiếm đoạt tiền hoàn thuế.
Dù công tác quản lý đã có nhiều bước tiến, nhưng thực tiễn cho thấy các hành vi gian lận ngày càng trở nên tinh vi, có tổ chức và mang tính liên tỉnh. Cụ thể qua công tác quản lý, Thuế TP. Hà Nội đã phát hiện một số DN đã thu gom hàng hoá trôi nổi (chủ yếu là hàng điện tử, linh kiện có giá trị cao) không chứng từ. Sau đó, thông qua việc mua bán hóa đơn bất hợp pháp từ các doanh nghiệp “vỏ bọc” để hợp thức hóa đầu vào, tạo lập chứng từ kế toán và hóa đơn điện tử giả tạo nhằm chứng minh nguồn gốc hàng hóa.
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp lập hồ sơ kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tiếp tục xây dựng chuỗi giao dịch khép kín, sau đó lập hồ sơ đề nghị hoàn số tiền lớn. Đây là thủ đoạn này có tính chất tổ chức, phân công vai trò giữa các doanh nghiệp trong chuỗi, sử dụng dữ liệu hóa đơn điện tử để che giấu hành vi.
Một hình thức gian lận khác mang tính kỹ thuật hơn là vụ việc tại một doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe máy để xuất khẩu. Qua phân tích dữ liệu, cơ quan Thuế phát hiện 143 chiếc xe trùng số khung - số máy. Đây là hành vi doanh nghiệp đã hợp thức hóa hồ sơ xuất khẩu trên cùng một thực thể hàng hóa hoặc sử dụng dữ liệu kỹ thuật bị làm giả để nâng khống số lượng hàng xuất khẩu.
Từ góc độ nghiệp vụ quản lý rủi ro, việc trùng số khung cho thấy sự không nhất quán giữa dữ liệu kỹ thuật của sản phẩm với chứng từ kế toán, hóa đơn điện tử và tờ khai hải quan, vi phạm nguyên tắc một hàng hóa – một định danh duy nhất.
Những dấu hiệu này là căn cứ quan trọng để cơ quan Thuế truy hoàn toàn bộ số thuế đã đề nghị hoàn sai, đồng thời xử lý vi phạm theo quy định của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, góp phần quan trọng trong việc siết chặt kỷ cương pháp luật, phòng chống gian lận hoàn thuế và bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước.
Nguyên nhân do lỗ hổng dữ liệu phân tán
Theo đại diện Thuế TP. Hà Nội sở dĩ các hành vi gian lận vẫn còn đất diễn là do đặc thù của hoạt động hoàn thuế GTGT ngày càng phức tạp, gắn với sự phát triển nhanh của các mô hình kinh doanh và chuỗi cung ứng. Các giao dịch kinh tế không còn diễn ra đơn lẻ mà hình thành theo chuỗi nhiều tầng, liên quan đến nhiều doanh nghiệp, nhiều địa bàn, thậm chí xuyên biên giới. Điều này làm gia tăng đáng kể khó khăn trong việc kiểm tra, xác minh tính có thật của giao dịch, đặc biệt đối với các hồ sơ hoàn thuế xuất khẩu ở ngành nghề tiềm ẩn rủi ro cao.
Bên cạnh đó, một nguyên nhân quan trọng khác là do hạn chế của hạ tầng dữ liệu và cơ chế kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Dữ liệu giữa cơ quan thuế, hải quan, ngân hàng và cơ quan công an hiện chưa thực sự được liên thông theo thời gian thực, còn phân tán ở nhiều hệ thống khác nhau, dẫn đến việc khai thác, đối chiếu thông tin phục vụ xác minh hồ sơ còn chậm và thiếu đồng bộ. Đặc biệt, dữ liệu về dòng tiền thanh toán – yếu tố then chốt để xác định tính hợp pháp của hồ sơ hoàn thuế – còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận đầy đủ, kịp thời, tạo ra khoảng trống trong kiểm soát rủi ro.
Đặc biệt, dữ liệu về dòng tiền thanh toán yếu tố then chốt để xác định tính hợp pháp của hồ sơ hoàn thuế còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận đầy đủ, kịp thời, tạo ra khoảng trống trong kiểm soát rủi ro.
Bên cạnh đó, ý thức tuân thủ của một bộ phận người nộp thuế còn thấp, thậm chí có hành vi che giấu thông tin, không hợp tác hoặc cố tình kéo dài thời gian cung cấp tài liệu để gây khó khăn cho công tác kiểm tra.
Chiến lược “Quản trị thông minh”
Để nâng cao hiệu quả quản lý hoàn thuế GTGT trong bối cảnh mới, Thuế TP. Hà Nội đã xây dựng một lộ trình toàn diện, lấy công nghệ làm trọng tâm và quản lý rủi ro làm phương thức vận hành chính:
Theo đó, cơ quan Thuế cần ưu tiên khơi thông dòng tiền cho những doanh nghiệp có lịch sử minh bạch thông qua cơ chế “hoàn trước, kiểm tra sau” góp phần rút ngắn thời gian xử lý, cải thiện thanh khoản và tạo điều kiện tái tạo nguồn vốn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực xuất khẩu và đầu tư. Ngược lại, đối với các mặt hàng rủi ro cao như linh kiện điện tử, xe máy, dăm gỗ, sắt thép... cần áp dụng “hàng rào kỹ thuật” nhằm sàng lọc, kiểm soát chặt chẽ các hồ sơ có dấu hiệu rủi ro, để bảo vệ ngân sách.
Đại diện Thuế TP. Hà Nội cũng cho rằng, việc thiết lập Trung tâm dữ liệu Thuế - Hải quan quốc gia là yêu cầu cấp thiết để truy xuất nguồn gốc hàng hóa theo chuỗi cung ứng. Đồng thời, cần tăng cường liên thông dữ liệu với ngân hàng và công an để kiểm soát dòng tiền và định danh chính xác người mua - người bán trong các giao dịch quốc tế.
Cùng với đó việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và Big Data là xu hướng tất yếu để chuyển đổi từ quản lý thủ công sang quản lý thông minh. Các thuật toán AI có khả năng tự động phân tích dữ liệu, qua đó nhận diện các mối liên kết bất thường và đưa ra cảnh báo sớm về các hành vi gian lận có tổ chức mà mắt thường khó nhận ra. Điều này giúp giảm sự phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của cán bộ và tăng tốc độ xử lý hồ sơ.
Trong thời đại kinh tế số, cán bộ thuế không chỉ cần giỏi luật thuế mà phải có kiến thức tổng hợp về kế toán, đầu tư, ngân hàng và thương mại quốc tế để nhận diện đúng bản chất của các giao dịch phức tạp.
Hoàn thuế GTGT là một chính sách nhân văn và cần thiết để nuôi dưỡng nguồn thu, nhưng không thể để chính sách này bị lợi dụng làm kẽ hở cho các hành vi trục lợi. Việc xây dựng một hệ thống quản lý hiện đại, minh bạch tại Hà Nội không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những doanh nghiệp chân chính mà còn là sự khẳng định kỷ cương pháp luật, góp phần xây dựng một môi trường kinh doanh công bằng và bền vững.