![]() |
| Ảnh: Minh họa. |
Khẳng định nguyên tắc thống nhất
Liên quan đến thời điểm ghi nhận doanh thu, thời điểm lập hóa đơn xác định thuế GTGT theo Nghị định số 70/2025/NĐ-CP của Chính phủ, dẫn Điều 8 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 ngày 26/11/202, theo Cục Thuế, thời điểm xác định thuế GTGT đối với hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua, hoặc thời điểm lập hóa đơn, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa.
Đồng thời, tại khoản 6 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, quy định rõ, thời điểm lập hóa đơn đối với hàng hóa bán ra là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua.
Riêng với các trường hợp cung cấp dịch vụ, hàng hóa có số lượng lớn, phát sinh thường xuyên, cần đối soát dữ liệu (như cung ứng nhiên liệu hàng không, điện, dịch vụ logistic, viễn thông, ngân hàng, chứng khoán, bưu chính – chuyển phát, thương mại điện tử…), thì thời điểm lập hóa đơn được xác định là thời điểm hoàn thành việc đối soát, nhưng chậm nhất không quá ngày 7 của tháng sau tháng phát sinh, hoặc không quá 7 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ quy ước.
Về thời điểm ký số trên hóa đơn điện tử, Nghị định số 70/2025/NĐ-CP cũng quy định rõ: nếu thời điểm ký số khác thời điểm lập hóa đơn thì hạn cuối để gửi cơ quan thuế hoặc chuyển dữ liệu hóa đơn là ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày lập hóa đơn. Người bán khai thuế theo thời điểm lập hóa đơn; người mua khai thuế theo thời điểm nhận hóa đơn hợp lệ.
Như vậy, thời điểm xác định thuế GTGT đã được quy định thống nhất với thời điểm lập hóa đơn theo các văn bản pháp luật liên quan, bao gồm cả Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 về chi tiết thời điểm xác định thuế GTGT.
Trước kiến nghị của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam cho rằng, mốc thời hạn lập hóa đơn trong vòng 7 ngày sau tháng phát sinh là khó đáp ứng, Cục Thuế viện dẫn Điều 90 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14. Theo đó, người bán hàng hóa, dịch vụ phải lập hóa đơn điện tử để giao cho người mua ngay khi phát sinh giao dịch, không phân biệt giá trị.
Căn cứ điểm b khoản 6 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP, đối với các trường hợp cần đối soát dữ liệu nhiều bên, pháp luật đã cho phép lập hóa đơn theo kỳ quy ước. Kỳ quy ước này do các bên tự thỏa thuận, nhưng vẫn phải đảm bảo thời hạn tối đa theo quy định.
Từ đó, Cục Thuế khẳng định: việc xác định thời điểm lập hóa đơn và thời điểm tính thuế GTGT đã được quy định thống nhất, rõ ràng trong Luật và các Nghị định hướng dẫn. Doanh nghiệp cần căn cứ vào tính chất giao dịch, lựa chọn kỳ đối soát hợp lý và tuân thủ đúng mốc thời gian lập hóa đơn.
Doanh nghiệp cần chủ động thích ứng với quy định mới
Cục Thuế đề nghị Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam nghiên cứu kỹ các quy định hiện hành, chủ động sắp xếp quy trình đối soát dữ liệu, phối hợp chặt chẽ với các đối tác trong và ngoài nước để đảm bảo việc lập hóa đơn đúng hạn, từ đó thực hiện kê khai, nộp thuế theo đúng pháp luật.
Việc tuân thủ quy định mới không chỉ đảm bảo nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp, mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, chuẩn hóa trong quản lý hóa đơn, chứng từ, phù hợp với xu thế chuyển đổi số trong quản lý thuế hiện nay.
Trước đó, theo phản ánh của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (thông qua Bộ Tư pháp), các quy định mới tại điểm c khoản 7 và điểm b khoản 6 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP có một số điểm chưa đồng bộ.
Nghị định 70/2025/NĐ-CP nêu, thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa; trong khi đó, thời điểm lập hóa đơn lại được tính theo thời điểm hoàn tất đối soát dữ liệu giữa các bên, nhưng không chậm hơn ngày 07 của tháng sau tháng phát sinh.
Trong khi đó, trên thực tế, việc lập hóa đơn khác kỳ với kỳ ghi nhận doanh thu có thể dẫn tới chênh lệch giữa hai mốc thời gian.
Từ thực tiễn hoạt động kinh doanh xăng dầu và các giao dịch có khối lượng lớn, thường xuyên, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam cho rằng quy định này có thể gây khó khăn khi doanh nghiệp phải phụ thuộc nhiều vào khâu đối soát dữ liệu, đặc biệt với các giao dịch liên quan đối tác quốc tế.