![]() |
| Thuế tỉnh Tuyên Quang tăng cường quản lý doanh nghiệp theo hướng dữ liệu và giám sát rủi ro. |
Quản lý sát biến động doanh nghiệp, hỗ trợ đúng điểm nghẽn
Toàn tỉnh Tuyên Quang hiện có có 8.946 doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức đang hoạt động, trong đó có 4.860 doanh nghiệp. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 4/2026, số đơn vị ngừng hoạt động đang làm thủ tục trên địa bàn là 137 đơn vị, tạm nghỉ kinh doanh 326 đơn vị và đóng mã số thuế 102 đơn vị.
Những biến động này cho thấy, công tác quản lý doanh nghiệp tại đây không chỉ dừng ở việc theo dõi số thu, mà còn đặt ra yêu cầu quản lý chặt chẽ trạng thái hoạt động, thông tin đăng ký thuế, nghĩa vụ kê khai và sử dụng hóa đơn điện tử. Đây là cơ sở để cơ quan Thuế phân loại người nộp thuế, hỗ trợ nhóm doanh nghiệp cần tháo gỡ vướng mắc, đồng thời nhận diện sớm các trường hợp có dấu hiệu rủi ro.
Thuế tỉnh Tuyên Quang thực hiện hỗ trợ người nộp thuế thông qua nhiều hình thức như trực tiếp, qua điện thoại, thư điện tử và phần mềm hỗ trợ từ xa về khai thuế, quyết toán thuế, nộp thuế, chính sách thuế, hóa đơn điện tử.
Bên cạnh đó, cơ quan Thuế cũng hướng dẫn doanh nghiệp đóng mã số thuế, thay đổi thông tin đăng ký thuế đối với các đơn vị sáp nhập, hợp nhất, giải thể; đồng thời rà soát, chuẩn hóa thông tin đăng ký thuế phục vụ chuyển đổi sang sử dụng định danh cá nhân, mã định danh tổ chức.
Ở khâu kê khai, Thuế tỉnh Tuyên Quang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ người nộp thuế kê khai thuận lợi, chính xác; đồng thời đôn đốc nộp hồ sơ khai thuế đúng hạn. Công tác hoàn thuế cũng được tiếp nhận, giải quyết theo hình thức điện tử với số thuế được hoàn từ đầu năm tính đến ngày 30/4/2026 đạt 116,5 tỷ đồng.
Thuế tỉnh Tuyên Quang cho biết, việc mở rộng hỗ trợ điện tử, hoàn thuế điện tử và chuẩn hóa dữ liệu giúp giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời tạo thêm cơ sở dữ liệu phục vụ phân tích, đối chiếu và quản lý rủi ro trong quá trình thực thi chính sách thuế.
![]() |
| Công chức thuế tỉnh Tuyên Quang hỗ trợ người nộp thuế thực hiện kê khai. |
Lấy dữ liệu hóa đơn làm trọng tâm kiểm soát rủi ro
Điểm đáng chú ý trong quản lý doanh nghiệp tại Tuyên Quang là việc thường xuyên đối chiếu dữ liệu kê khai thuế với thông tin từ nhiều nguồn, gồm ứng dụng hóa đơn điện tử, cảnh báo rủi ro từ cơ quan thuế địa phương khác và hợp đồng kinh tế. Qua đó, cơ quan Thuế kịp thời phát hiện các trường hợp khai sai, khai thiếu, khai chậm hoặc không khai để yêu cầu người nộp thuế giải trình, bổ sung và nộp kịp thời vào ngân sách nhà nước.
Hướng quản lý này phù hợp với chỉ đạo chung của ngành Thuế về siết chặt xử lý cảnh báo rủi ro hóa đơn tại Công văn số 1125/CT-QLTT nhằm ngăn chặn tình trạng một số doanh nghiệp, cá nhân mua bán trái phép hóa đơn, gian lận, trốn thuế, hoàn thuế không đúng quy định.
Cùng với kiểm tra hồ sơ tại trụ sở cơ quan Thuế, Thuế tỉnh Tuyên Quang triển khai kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, ứng dụng phân tích rủi ro từ dữ liệu quản lý thuế để lựa chọn đối tượng kiểm tra phù hợp.
Ở phương diện chuyển đổi số, Thuế tỉnh Tuyên Quang đặt mục tiêu 100% doanh nghiệp kê khai, nộp thuế điện tử và sử dụng hóa đơn điện tử; đồng thời ứng dụng AI và phân tích dữ liệu trong phân tích rủi ro về hóa đơn điện tử, giám sát sự tuân thủ pháp luật thuế.
Trong tháng 5/2026, Thuế tỉnh Tuyên Quang tiếp tục tăng cường quản lý thuế đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; đôn đốc người nộp thuế khai, nộp đầy đủ các khoản phát sinh; duy trì khai nộp thuế điện tử, hoàn thuế điện tử và xác nhận nghĩa vụ thuế điện tử; đồng thời tiếp tục giám sát hồ sơ thuế, hóa đơn, yêu cầu giải trình, bổ sung thông tin đối với người nộp thuế thuộc diện rủi ro cao.
Có thể thấy, quản lý doanh nghiệp trên địa bàn Tuyên Quang đang chuyển mạnh từ phương thức theo dõi thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu và mức độ tuân thủ.
Khi dữ liệu đăng ký thuế, kê khai, hoàn thuế và hóa đơn điện tử được khai thác thường xuyên, cơ quan thuế có thêm công cụ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đúng chính sách, đồng thời kiểm soát tốt hơn các rủi ro thất thu, nâng cao tính minh bạch, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và góp phần hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách địa phương.