![]() |
| Lực lượng Quản lý thị trường phối hợp kiểm tra cơ sở vi phạm. |
Trong số các vụ việc trên có 128 vụ việc có dấu hiệu tội phạm được chuyển cơ quan điều tra để xem xét, xử lý theo quy định. Nổi lên trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra, xử lý 2.124 vụ việc vi phạm, xử phạt khoảng 16,9 tỷ đồng.
Các hành vi vi phạm chủ yếu gồm sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm; kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ; không tuân thủ quy định về kiểm nghiệm, quản lý, bảo quản, chế biến, hạn sử dụng; ghi nhãn, công bố, tự công bố sản phẩm không đúng quy định.
Đối với thương mại điện tử, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đã chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, theo dõi hoạt động kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội và nền tảng số.
Đồng thời, phối hợp với cơ quan chức năng xác minh, xử lý tổ chức, cá nhân lợi dụng môi trường mạng để kinh doanh hàng giả, hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ.
Nửa đầu năm 2026, lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra 514 vụ việc trong lĩnh vực thương mại điện tử, xử lý 424 vụ, xử phạt khoảng 7,9 tỷ đồng.
Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BCT quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.
Theo đó, thương nhân có thể triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc thông qua Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương hoặc hệ thống truy xuất nguồn gốc nội bộ có kết nối với hệ thống VeriGoods.
Quy định này góp phần nâng cao tính minh bạch của hàng hóa lưu thông, hỗ trợ cơ quan quản lý xác định nguồn gốc, lô hàng, đường đi của sản phẩm và trách nhiệm của từng khâu trong chuỗi cung ứng.
Đối với mặt hàng thực phẩm, việc áp dụng truy xuất nguồn gốc cần căn cứ phạm vi quản lý, danh mục hàng hóa rủi ro cao và các quy định chuyên ngành về an toàn thực phẩm.
Trong hoạt động thực thi, lực lượng quản lý thị trường cần kiểm tra truy xuất nguồn gốc theo hướng thực chất, không chỉ dừng ở việc quét mã QR hoặc kiểm tra tem truy xuất, mà phải đối chiếu dữ liệu truy xuất với nhãn hàng hóa, hóa đơn, chứng từ, hồ sơ công bố, ngày sản xuất, hạn sử dụng, lô sản xuất, thông tin nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối và điều kiện bảo quản.