![]() |
| Cần đa dạng hóa và phát triển các kênh huy động vốn cho doanh nghiệp. Ảnh: Internet |
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, việc đa dạng hóa và phát triển các kênh huy động vốn song song với thị trường tín dụng là yêu cầu cấp thiết.
Cách tiếp cận này sẽ góp phần giảm chi phí vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân, đồng thời hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào nợ ngắn hạn. Trong đó, việc khai mở thị trường vốn, trong đó vốn cổ phần (IPO) và trái phiếu doanh nghiệp được xem là chìa khóa quan trọng nhằm giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng.
Đề cập tới vấn đề này, tại Toạ đàm Thị trường vốn nợ Việt Nam 2025 vừa được tổ chức, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup đã chỉ ra những cơ hội cụ thể qua kế hoạch huy động vốn cổ phần mới cũng như kế hoạch phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp niêm yết.
Cụ thể, theo ông Thuân, các doanh nghiệp niêm yết có kế hoạch huy động vốn qua IPO lên tới 198,7 nghìn tỷ đồng trong năm 2025 và thực tế đã huy động 56,2 nghìn tỷ đồng trong giai đoạn 7 tháng đầu năm 2025.
Dự kiến 5 tháng còn lại của năm 2025, con số huy động qua vốn cổ phần trên thị trường chứng khoán sẽ còn lại 142,6 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 5,4 tỷ USD).
Trong đó, các ngân hàng thương mại đang là nhóm ngành có kế hoạch huy động vốn lớn nhất với tổng giá trị 62 nghìn tỷ đồng (khoảng 2,3 tỷ USD) cho giai đoạn tới đây.
Thực tế cho thấy, nhu cầu huy động trái phiếu doanh nghiệp cũng rất lớn, bởi các ngân hàng thương mại đã huy động khoảng 200 nghìn tỷ đồng trong 7 tháng năm 2025 và dự kiến sẽ huy động 112 nghìn tỷ đồng (khoảng 4,2 tỷ USD) cho các tháng còn lại của năm.
“Những con số trên đã khẳng định không chỉ nhu cầu vốn lớn mà thực tế các doanh nghiệp Việt Nam đang đẩy mạnh triển khai các hoạt động huy động vốn cụ thể cả trên thị trường chứng khoán và trên thị trường vốn nợ Việt Nam”, đại diện FiinGroup nhấn mạnh.
Ông Dominic Scriven, Chủ tịch Điều hành Dragon Capital Group cho biết, Việt Nam đặt mục tiêu vào năm 2030 quy mô GDP sẽ khoảng 800 tỷ USD, tức tương đương GDP bình quân đầu người khoảng 8 nghìn USD. Như vậy, dựa trên cơ cấu đầu tư của khu vực tư nhân hiện tại ở mức khoảng 40% GDP, lúc đó tổng quy mô đầu tư của khu vực này sẽ khoảng 320 tỷ USD/năm.
Vì thế, ông Dominic Scriven cho rằng, việc khai mở thị trường vốn nội địa và thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, trong đó có việc qua thị trường nợ và trái phiếu doanh nghiệp là điều tất yếu phải triển khai.
Tuy nhiên, ông Thuân cũng cho rằng, khả năng cấp tín dụng, đặc biệt là tín dụng đầu tư trung và dài hạn còn phụ thuộc vào khả năng cải thiện hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại, hiện hệ số này ở mức còn khá khiêm tốn, khoảng 12,5%.
Với tỷ lệ này thì các ngân hàng thương mại sẽ khó có đủ bộ đệm vốn để tăng trưởng tín dụng trung - dài hạn cao trong các năm tới đây trong bối cảnh nhu cầu nguồn vốn đã phân tích như trên.
Theo đánh giá của chuyên gia, để khai mở thị trường vốn nói chung và vốn nợ hay trái phiếu doanh nghiệp nói riêng, điều quan trọng không chỉ tập trung phía cung hàng hóa là cải thiện và chuẩn hóa các điều kiện phát hành, mà điều quan trọng không kém, thậm trí quan trọng hơn, là việc phát triển cơ sở nhà đầu tư qua việc rà soát những hạn chế đầu tư, phân bổ tài sản.
Bên cạnh đó, thời gian qua việc thiếu vắng nhà đầu tư quốc tế tham gia vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng do một yếu tố quan trọng khác đó là mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam còn thấp, hiện là BB+, theo S&P.
Do đó, bên cạnh việc cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia để các quỹ tương hỗ, quỹ đầu tư đa kênh của các Chính phủ mới có thể phân bổ tài sản của họ vào thị trường vốn nợ, Việt Nam cần lưu tâm củng cố về sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng, nhất là về cải thiện năng lực vốn cho hệ thống ngân hàng, cải thiện sức mạnh của cán cân thanh toán, trong đó có cải thiện dữ trữ ngoại hối cũng như minh bạch thông tin hơn nữa.