Theo đó, đối với đề nghị hướng dẫn cách khai báo trị giá hải quan trong trường hợp nhập khẩu (NK) phần mềm ứng dụng độc lập (không gắn liền với máy móc thiết bị), tại khoản 1 Điều 1 Thông tư số 60/2019/TT-BTC sửa đổi bổ sung khoản 5, khoản 19 Điều 2 Thông tư số 39/2015/TT-BTC quy định: “Phần mềm ứng dụng là các dữ liệu, chương trình hoặc hướng dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác (application software) khi cài đặt vào một thiết bị xử lý dữ liệu tự động (data processing equipment), ví dụ: máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng, thì có khả năng làm thiết bị đó thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể mà người sử dụng phần mềm ứng dụng muốn thực hiện. Các sản phẩm âm thanh, phim hoặc hình ảnh không được coi là phần mềm ứng dụng theo quy định này.
Phần mềm điều khiển, vận hành (còn gọi là phần mềm hệ thống) là các dữ liệu, chương trình hoặc hướng dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác (operating system), khi tích hợp vào máy móc thiết bị thì có tác dụng làm trung gian giao tiếp giữa người sử dụng và máy móc thiết bị: cung cấp môi trường cho phép người sử dụng vận hành, điều khiển các chức năng của máy móc thiết bị”.
![]() |
| Công chức Hải quan ga đường sắt quốc tế Đồng Đăng (Chi cục Hải quan khu vực VI) tiếp nhận và xử lý tờ khai hải quan cho DN. Ảnh: H.Nụ |
Cũng tại mục 5 khoản 5 Điều 1 Thông tư số 60/2019/TT-BTC sửa đổi bổ sung khoản 5 Điều 6 Thông tư số 39/2015/TT-BTC quy định trị giá hải quan đối với phần mềm điều khiển được ghi, lưu trữ trong phương tiện trung gian và thủ tục khai báo: “Trường hợp hàng hóa NK là máy móc thiết bị có phần mềm điều khiển, vận hành NK kèm theo, trị giá hải quan là trị giá giao dịch của máy móc thiết bị và phần mềm điều khiển, vận hành NK.
Trường hợp phần mềm điều khiển, vận hành được ghi, lưu trữ trong phương tiện trung gian để cài đặt vào máy móc thiết bị sau khi NK: Trường hợp trị giá của phần mềm điều khiển, vận hành tách riêng với trị giá của phương tiện trung gian thì trị giá hải quan là trị giá giao dịch của máy móc thiết bị và phần mềm điều khiển, vận hành NK, không bao gồm trị giá của phương tiện trung gian. Cách xác định trị giá của phương tiện trung gian thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều này”.
Ngoài ra, mục 6 khoản 5 Điều 1 Thông tư số 60/2019/TT-BTC sửa đổi bổ sung khoản 5 Điều 6 Thông tư số 39/2015/TT-BTC quy định trị giá hải quan đối với trường hợp hàng hóa NK là phương tiện trung gian chứa đựng phần mềm ứng dụng: “Trường hợp hàng hóa NK là phương tiện trung gian (carrier media) chứa đựng phần mềm ứng dụng dùng cho các thiết bị xử lý dữ liệu (software for data processing equipment), trị giá hải quan là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán của phương tiện trung gian, không bao gồm trị giả của phần mềm ứng dụng nếu trên hóa đơn thương mại, trị giá của phần mềm ứng dụng được tách riêng với trị giá của phương tiện trung gian”.
Theo Cục Hải quan, như vậy, đối với trường hợp NK phần mềm ứng dụng độc lập (không gắn liền với máy móc thiết bị), trị giá hải quan là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán của phương tiện trung gian, không bao gồm trị giá của phần mềm ứng dụng nếu trên hóa đơn thương mại, trị giá của phần mềm ứng dụng được tách riêng với trị giá của phương tiện trung gian.
Đối với trường hợp hàng hóa NK là phần mềm điều khiển vận hành, trị giá hải quan và thủ tục khai báo được quy định tại mục 5 khoản 5 Điều 1 Thông tư số 60/2019/TT-BTC sửa đổi bổ sung khoản 5 Điều 6 Thông tư số 39/2015/TT-BTC.
Liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng (GTGT) hàng NK, và phân biệt trách nhiệm khai báo giữa cơ quan Hải quan và cơ quan Thuế, tại Điều 3 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.
Tại khoản 21 Điều 5 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm theo quy định của pháp luật thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Tại khoản 13 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm theo quy định của pháp luật về công nghệ thông tin, pháp luật về công nghiệp công nghệ số và pháp luật liên quan thuộc đối tượng không chịu thuế.
Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 69/2025/TT-BTC quy định người nộp thuế căn cứ hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều 5 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 và Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 để xác định đối tượng không chịu thuế GTGT.
Cục Hải quan đề nghị DN căn cứ quy định nêu trên, đối chiếu với hồ sơ hải quan thực tế để thực hiện. Trường hợp vướng mắc, doanh nghiệp liên hệ với cơ quan Hải quan nơi đăng ký tờ khai để được hướng dẫn cụ thể.