![]() |
| Công chức Chi cục Hải quan khu vực II phân tích, theo dõi nợ thuế. Ảnh: T.H |
Lộ diện hàng loạt doanh nghiệp nợ thuế lớn, kéo dài nhiều năm
Chi cục Hải quan khu vực II vừa công khai danh sách gần 6.000 doanh nghiệp nợ thuế, tiền phạt quá hạn và quá hạn cưỡng chế tính đến tháng 11/2025, với tổng số nợ lên tới hơn 3.000 tỷ đồng. Đây là một trong những động thái mạnh mẽ nhằm tăng cường tính minh bạch, đồng thời tạo áp lực buộc doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.
Theo tìm hiểu, trong số này có 49 doanh nghiệp nợ từ 10 tỷ đồng trở lên, với tổng số nợ gần 1.500 tỷ đồng. Đáng chú ý, phần lớn các khoản nợ phát sinh từ nhiều năm trước, nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động hoặc không còn hiện diện tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi.
Trong nhóm nợ lớn, không ít doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với số nợ lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng. Điển hình là Công ty CP NIVL, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nợ 152,2 tỷ đồng. Được cấp phép từ năm 1998 nhưng đến năm 2007 mới đi vào hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến đường, doanh nghiệp này hiện đã trở thành một trong những “điểm nghẽn” lớn trong danh sách nợ thuế.
Ngoài ra, còn có hàng loạt doanh nghiệp nợ lớn khác như: Công ty TNHH Cửu Tinh Việt Nam (trên 91 tỷ đồng), Công ty TNHH Mô Tô An Thành (hơn 80 tỷ đồng), Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Lợi Hào Việt Nam (trên 62 tỷ đồng), Công ty Cổ phần Hữu Liên Á Châu (trên 35 tỷ đồng), Công ty Cổ phần Lọc Hóa Dầu Nam Việt (trên 25 tỷ đồng), Công ty TNHH Toptone Việt Nam (trên 22 tỷ đồng), Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu Hoàng Phước Minh (trên 41 tỷ đồng)...
Đáng nói, một số khoản nợ “treo” từ những năm 1994–1995, chủ yếu thuộc lĩnh vực gia công, sản xuất xuất khẩu. Trường hợp Công ty TNHH Sản xuất giày dép Kwang Nam là ví dụ điển hình khi doanh nghiệp này nợ gần 36 tỷ đồng và đã tồn tại trong danh sách nợ suốt nhiều năm.
Tăng tốc cưỡng chế, linh hoạt giải pháp
Trước thực trạng nợ thuế lớn và phức tạp, Chi cục Hải quan khu vực II đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp cưỡng chế theo quy định. Từ việc đề nghị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép hoạt động đến áp dụng các biện pháp mạnh như dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, hay tạm hoãn xuất cảnh đối với người đại diện pháp luật của doanh nghiệp nợ thuế.
Nhờ cách làm quyết liệt, đơn vị đã thu hồi và xử lý trên 70 tỷ đồng nợ quá hạn phát sinh trước năm 2025, trong đó có nhiều khoản nợ tồn tại hơn chục năm. Đây là kết quả không nhỏ trong bối cảnh nhiều khoản nợ được xếp vào diện “khó thu”.
![]() |
| Hải quan khu vực II đang triển khai nhiều giải pháp quản lý, thu hồi nợ thuế. Ảnh: T.H |
Điển hình, Hải quan Khu chế xuất Tân Thuận vừa thu hồi hơn 3,6 tỷ đồng nợ thuế của 2 doanh nghiệp có thời gian nợ kéo dài từ 16 - 22 năm. Kết quả này cho thấy hiệu quả của việc kiên trì theo dõi, kết hợp linh hoạt các biện pháp nghiệp vụ và cưỡng chế.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Chi cục Hải quan khu vực II, vẫn còn hơn 1.800 tỷ đồng nợ thuế khó thu, chủ yếu thuộc các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, giải thể hoặc mất khả năng thanh toán. Đây là thách thức lớn, đòi hỏi phải có giải pháp xử lý phù hợp, vừa đảm bảo đúng quy định, vừa tránh thất thu ngân sách.
Trong thời gian tới, đơn vị xác định tiếp tục đẩy mạnh rà soát, phân loại nợ theo từng nhóm: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ chờ xử lý, làm cơ sở áp dụng các biện pháp phù hợp. Đồng thời, tăng cường công tác phân tích dữ liệu nợ thuế trên các địa bàn quản lý như TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương nhằm phục vụ hiệu quả công tác điều hành.
Với phương châm “giảm một đồng nợ thuế là tăng thu một đồng cho ngân sách nhà nước”, Chi cục Hải quan khu vực II xác định thu hồi nợ thuế là nhiệm vụ trọng tâm. Bên cạnh việc ngăn ngừa phát sinh nợ mới, đơn vị sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý, theo dõi và xử lý nợ; tăng cường cưỡng chế theo quy định. Đồng thời, chủ động đề xuất khoanh nợ, xóa nợ đối với các trường hợp không còn khả năng nộp ngân sách.
Việc kiên trì “gỡ nút thắt” nợ thuế không chỉ giúp chống thất thu ngân sách nhà nước mà còn góp phần lành mạnh hóa môi trường kinh doanh, nâng cao tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.