![]() |
| Hoạt động nghiệp vụ tại Hải quan cửa khẩu quốc tế Tà Lùng (Chi cục Hải quan khu vực XVI). Ảnh: Thái Bình. |
Đưa công nghệ sâu hơn vào hoạt động nghiệp vụ
Báo cáo kết quả công tác quý III và phương hướng nhiệm vụ quý IV/2026 của Chi cục Hải quan khu vực XVI cho thấy, trong bối cảnh hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn chịu tác động của thị trường và chính sách thương mại biên giới, đơn vị xác định cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan và chuyển đổi số là những giải pháp quan trọng nhằm vừa nâng cao hiệu quả quản lý, vừa rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Định hướng này càng có ý nghĩa khi phạm vi quản lý của Chi cục trải rộng trên hai tỉnh Cao Bằng và Tuyên Quang, với hoạt động xuất nhập khẩu tập trung tại các cửa khẩu Tà Lùng, Trà Lĩnh, Sóc Giang (Cao Bằng) Thanh Thủy (Tuyên Quang) và Hải quan Tuyên Quang.
Từ đầu năm đến ngày 14/9/2026, đã có 449 doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu tại Chi cục, tăng 19 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trước; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, bao gồm kim ngạch hàng hóa giám sát, đạt hơn 2,155 tỷ USD, tăng 9%.
Quy mô giao dịch đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với khả năng xử lý dữ liệu, vận hành hệ thống và cung cấp dịch vụ hải quan nhanh chóng, ổn định.
Một điểm nổi bật trong quý III của Chi cục Hải quan khu vực XVI là chuyển đổi số không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ trang bị về cơ sở vật chất, trang thiết bị hay vận hành một số phần mềm nghiệp vụ, mà đang được triển khai tương đối đồng bộ từ tổ chức chỉ đạo, hạ tầng, dữ liệu, tài khoản người dùng đến an toàn, an ninh thông tin.
Đáng chú ý, đơn vị đã phối hợp với Ban CNTT và Thống kê hải quan (Cục Hải quan) hoàn thiện hồ sơ đề xuất cấp độ đối với hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin tại trụ sở Chi cục; đồng thời thường xuyên hỗ trợ các đơn vị trực thuộc sử dụng hệ thống nghiệp vụ, xử lý lỗi phát sinh để bảo đảm hoạt động ổn định, thông suốt.
Liên quan đến việc quản trị hệ thống, quý III, Chi cục thực hiện cấp hơn 400 tài khoản cho công chức trên các hệ thống VNACCS/VCIS, V5, GTT02, MHS, hệ thống quản lý rủi ro, GPS và các hệ thống nghiệp vụ khác.
Đơn vị cũng rà soát hơn 5.000 tài khoản người dùng trên các hệ thống CNTT hải quan và đánh giá thực trạng hơn 480 trang thiết bị CNTT trong toàn Chi cục.
Những con số này cho thấy một yêu cầu quan trọng của chuyển đổi số là cùng với phát triển các ứng dụng mới phải quản trị tốt “tài sản số”, từ thiết bị, tài khoản, phân quyền đến dữ liệu. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với cơ quan Hải quan bởi hầu hết các khâu nghiệp vụ hiện nay đều gắn chặt với hệ thống CNTT.
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy cũng được gắn với sắp xếp lại hạ tầng công nghệ. Sau khi Hải quan cửa khẩu Pò Peo giải thể, Chi cục thực hiện khóa mã địa điểm và tài khoản người sử dụng trên hệ thống nghiệp vụ; tổ chức tháo lắp, di dời, tiếp nhận và điều chuyển trang thiết bị. Trong đó, đơn vị đề xuất điều chuyển nội bộ 7 thiết bị CNTT, 14 máy vi tính và 3 máy in nhằm bố trí nguồn lực phù hợp hơn với nhu cầu và vị trí việc làm…
Đáng chú ý hơn, chuyển đổi số đã xuất hiện những yếu tố mang tính chủ động từ cơ sở. Chi cục hoàn thành xây dựng và đưa vào thử nghiệm phần mềm hỗ trợ tra cứu hóa chất do đơn vị tự phát triển. Đây có thể xem là bước chuyển đáng ghi nhận: từ vị trí chủ yếu khai thác các hệ thống dùng chung sang chủ động nghiên cứu công cụ số để hỗ trợ giải quyết những nhu cầu nghiệp vụ cụ thể.
![]() |
| Hoạt động nghiệp vụ tại Hải quan cửa khẩu quốc tế Trà Lĩnh (Chi cục Hải quan khu vực XVI). Ảnh: Hải quan khu vực XVI. |
Lấy hiệu quả phục vụ doanh nghiệp làm thước đo
Giá trị của ứng dụng CNTT và hiện đại hóa hải quan cuối cùng phải được thể hiện ở hiệu quả xử lý thủ tục và mức độ thuận lợi đối với người dân, doanh nghiệp.
Trong quý III (từ ngày 15/6 đến 14/9/2026), Chi cục Hải quan khu vực XVI đã tiếp nhận và giải quyết 15.484 hồ sơ thủ tục hành chính. Trong đó, 296 hồ sơ được tiếp nhận, xử lý qua Hệ thống dịch vụ công trực tuyến và 15.188 hồ sơ được xử lý trên Hệ thống thông quan hàng hóa tự động VNACCS/VCIS.
Theo báo cáo của đơn vị, 100% hồ sơ được tiếp nhận, xử lý và giải quyết đúng quy trình, đúng thời hạn.
Kết quả này cho thấy các hệ thống điện tử đã trở thành hạ tầng trực tiếp phục vụ dòng chảy thương mại. Với địa bàn biên giới, nơi thời gian thông quan liên quan trực tiếp đến chi phí vận tải, lưu kho, bảo quản hàng hóa, nhất là nông sản, khả năng duy trì hệ thống hoạt động liên tục càng có ý nghĩa đối với doanh nghiệp.
Công nghệ cũng được sử dụng ngày càng rõ trong công tác quản lý rủi ro. Trong quý, toàn Chi cục có 15.188 tờ khai được phân luồng, trong đó 11.021 tờ khai luồng Xanh, chiếm 72,56%; 3.897 tờ khai luồng Vàng, chiếm 25,66%; chỉ 270 tờ khai luồng Đỏ, tương ứng 1,78%.
Việc ứng dụng quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu giúp Chi cục tập trung nguồn lực kiểm tra vào những lô hàng, doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao, đồng thời tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tuân thủ tốt.
Do vậy, Chi cục đã chủ động thu thập, phân tích thông tin về doanh nghiệp, cá nhân và mặt hàng xuất nhập khẩu; triển khai Chương trình khuyến khích doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ pháp luật hải quan, qua đó từng bước chuyển từ tư duy kiểm soát thuần túy sang hỗ trợ tuân thủ.
Một mắt xích khác là quản lý thuế, Chi cục duy trì chương trình nộp thuế điện tử 24/7, phối hợp với kho bạc và các ngân hàng thương mại, đồng thời thường xuyên rà soát dữ liệu trên các hệ thống MHS, GTT02, KTTTT… để phát hiện những trường hợp khai chưa đầy đủ tên hàng, mã số chưa chính xác. Như vậy, công nghệ vừa phục vụ tạo thuận lợi, vừa hỗ trợ kiểm soát nguồn thu và phòng ngừa thất thu ngân sách.
Điểm đáng chú ý trong cách triển khai của Chi cục Hải quan khu vực XVI là ứng dụng CNTT đang được đặt trong tổng thể cải cách và hiện đại hóa.
Đơn vị đã cụ thể hóa Kế hoạch cải cách, phát triển, hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2026-2030; ban hành Kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động cải cách, phát triển và hiện đại hóa năm 2026; đồng thời triển khai các nhiệm vụ gắn với Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Trong quý IV, yêu cầu đặt ra đối với Chi cục Hải quan khu vực XVI không chỉ là tiếp tục sử dụng tốt những hệ thống hiện có mà còn phải bảo đảm hệ thống vận hành ổn định, an toàn, thông suốt, tăng cường giám sát các hệ thống nghiệp vụ trọng yếu, hỗ trợ kỹ thuật kịp thời, không để gián đoạn ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu…
Trong điều kiện hoạt động xuất nhập khẩu đòi hỏi tốc độ xử lý nhanh nhưng quản lý nhà nước vẫn phải chặt chẽ, đây chính là cơ sở để Chi cục Hải quan khu vực XVI tiếp tục nâng cao năng lực quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực để góp phần giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục cho cộng đồng doanh nghiệp.
Vì vậy, chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện hiện đại hóa công cụ làm việc mà đang trở thành một trong những động lực quan trọng để xây dựng cơ quan Hải quan hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và phục vụ tốt hơn hoạt động thương mại trên địa bàn.