![]() |
| Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan khu vực IV. Ảnh: Quang Hùng |
Quản lý xuyên suốt trước, trong và sau thông quan
Trước đây, hoạt động kiểm tra hải quan có thời điểm còn dựa nhiều vào phương thức kiểm tra diện rộng và kinh nghiệm của công chức thực thi. Cách làm này có thể làm gia tăng chi phí, kéo dài thời gian xử lý đối với cả những doanh nghiệp có lịch sử chấp hành pháp luật tốt, đồng thời khiến nguồn lực quản lý chưa được tập trung đúng mức vào các đối tượng tiềm ẩn rủi ro.
Theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), Việt Nam đã từng bước chuyển sang phương thức quản lý dựa trên rủi ro. Đặc biệt, Luật Hải quan số 54/2014/QH13 đã xác lập quản lý rủi ro là một trong những nguyên tắc quản lý cốt lõi, được áp dụng xuyên suốt các khâu trước, trong và sau thông quan.
Qua quá trình hoàn thiện chính sách, việc quyết định kiểm tra, giám sát và kiểm tra sau thông quan ngày càng dựa trên kết quả phân tích, đánh giá rủi ro. Trong đó, mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trở thành một yếu tố quan trọng để xác định mức độ kiểm tra, giám sát phù hợp.
Theo Cục Hải quan, nếu quản lý rủi ro giúp trả lời câu hỏi “lô hàng này tiềm ẩn nguy cơ gì?”, thì quản lý tuân thủ hướng đến câu hỏi dài hạn hơn: “Doanh nghiệp có quá trình chấp hành pháp luật như thế nào và có đủ điều kiện để được giảm mức độ kiểm tra, giám sát hay không?”.
Để triển khai đồng bộ, ngành Hải quan đang xây dựng hệ thống quản lý tuân thủ theo nhiều cấp độ, từ xác định nghĩa vụ, đo lường và đánh giá mức độ tuân thủ đến giám sát những thay đổi trong hành vi, nhận diện khoảng trống tuân thủ và phân nhóm doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, cơ quan Hải quan triển khai các chương trình khuyến khích tự nguyện tuân thủ và áp dụng biện pháp quản lý phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Kết quả đánh giá được tích hợp vào hồ sơ tuân thủ của doanh nghiệp, hình thành nguồn dữ liệu tập trung, được cập nhật thường xuyên và phục vụ đồng thời công tác quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ. Nhờ đó, cơ quan Hải quan không chỉ xem xét nguy cơ của từng lô hàng mà còn có thể đánh giá toàn diện quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp theo thời gian.
Hiệu quả của định hướng này được thể hiện qua kết quả điều chỉnh các tiêu chí phân luồng theo hướng tập trung vào những đối tượng có nguy cơ cao. Theo đó, hiện tỷ lệ tờ khai luồng Xanh tăng 4,97%, luồng Vàng giảm 4,27% và luồng Đỏ giảm 0,71% so với cùng kỳ năm trước.
Việc điều chỉnh phân luồng góp phần rút ngắn thời gian thông quan, tiết kiệm chi phí lưu kho, lưu bãi và nhân công kiểm hóa cho doanh nghiệp, đồng thời duy trì yêu cầu kiểm soát rủi ro, bảo đảm an ninh kinh tế.
Cùng với đó, ngành Hải quan triển khai Chương trình khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ pháp luật hải quan, thu hút 397 doanh nghiệp tham gia. Trong số này, 355 doanh nghiệp duy trì mức độ tuân thủ và 13 doanh nghiệp được nâng mức tuân thủ.
Tuân thủ pháp luật là lợi thế của doanh nghiệp
Định hướng của ngành Hải quan trong thời gian tới là tăng cường tích hợp, chuẩn hóa dữ liệu; nâng cao năng lực phân tích, cảnh báo rủi ro; từng bước tự động hóa quản lý hồ sơ, đánh giá tuân thủ, xác định trọng điểm - hình thành chu trình quản lý khép kín, phù hợp tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số quốc gia. Nhờ đó, việc đánh giá doanh nghiệp sẽ dần chuyển từ xử lý thủ công sang đánh giá liên tục trên nền dữ liệu, giảm yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại thông tin cơ quan nhà nước đã có.
Tuân thủ pháp luật trở thành lợi thế thực sự của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đầu tư cho hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ và duy trì lịch sử tuân thủ tốt cần được hưởng lợi tương xứng, thay vì bị kiểm tra như doanh nghiệp có rủi ro cao - đúng tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, hướng tới cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, đồng hành cùng doanh nghiệp.
Đó là, doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật được xem xét ưu tiên thủ tục hải quan, miễn oặc giảm mức độ kiểm tra thực tế hàng hóa và kiểm tra sau thông quan.
Doanh nghiệp được tiết kiệm thời gian và chi phí nhờ rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí lưu kho, bãi và chi phí tuân thủ hành chính cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp được cơ quan Hải quan chủ động hỗ trợ, cung cấp thông tin, hướng dẫn nghiệp vụ và xây dựng các chương trình hỗ trợ để doanh nghiệp nâng cao năng lực tự tuân thủ.
| Ngày 23/8/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, có hiệu lực từ ngày 1/3/2027. Luật có nhiều nội dung đáng chú ý như hoàn thiện cơ chế một cửa quốc gia, bổ sung quy định về kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử, hoàn thiện quy định về kiểm tra sau thông quan và hồ sơ hải quan. Trong đó, việc sửa đổi Điều 17 về quản lý rủi ro và bổ sung Điều 17a về quản lý tuân thủ là những nội dung có ý nghĩa nền tảng. Đáng chú ý, quản lý tuân thủ được quy định trực tiếp tại một điều khoản riêng của Luật Hải quan, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho việc triển khai phương thức quản lý này. |