![]() |
| Công chức Thuế tỉnh Lào Cai hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế sử dụng eTax Mobile. |
Gần 43.000 hộ kinh doanh sử dụng eTax Mobile
Theo Thuế tỉnh Lào Cai, đến ngày 26/8/2026, toàn tỉnh có 42.885 hộ kinh doanh sử dụng eTax Mobile, đạt 98%; 43.137 hộ có tài khoản thuế điện tử, cũng đạt 98%.
Cùng với đó, 44.105 hộ đã nộp thành công thông báo số tài khoản hoặc số hiệu ví điện tử, đạt 100%; 20.773 hộ đã nộp tờ khai theo quy định, đạt 98%.
Đây là những dữ liệu được Thuế tỉnh Lào Cai tập hợp trong quá trình số hóa thông tin hộ kinh doanh. Thông qua tài khoản thuế điện tử, eTax Mobile, tờ khai, hóa đơn điện tử và thông tin về tài khoản thanh toán, cơ quan Thuế có thêm các nguồn dữ liệu để đối chiếu với hoạt động kinh doanh thực tế.
Trong lĩnh vực hóa đơn điện tử, toàn tỉnh Lào Cai có 5.264 hộ đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan Thuế và hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền. Riêng số hộ đăng ký hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền là 4.074 hộ.
Việc hình thành dữ liệu ở nhiều khâu giúp thông tin về hộ kinh doanh không chỉ dừng ở hồ sơ đăng ký. Các dữ liệu về kê khai, hóa đơn, tài khoản thanh toán và phương thức kinh doanh có thể được tập hợp để phục vụ quá trình đối chiếu, phân tích theo quy định.
Cùng với số hóa dữ liệu hộ kinh doanh, Thuế tỉnh Lào Cai đang triển khai các nhiệm vụ theo Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 11/8/2026 của UBND tỉnh Lào Cai về tăng cường quản lý thu, chống thất thu ngân sách nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ, thương mại điện tử và kinh doanh trên nền tảng số trên địa bàn tỉnh.
Cụ thể, Thuế tỉnh Lào Cai tham mưu, xây dựng Đề án “Tăng cường quản lý thu, chống thất thu ngân sách nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ, thương mại điện tử và kinh doanh trên nền tảng số trên địa bàn tỉnh”.
Theo định hướng của Đề án, nguồn thông tin phục vụ công tác thuế được mở rộng từ dữ liệu do ngành Thuế trực tiếp quản lý sang dữ liệu được chia sẻ, phối hợp khai thác từ các sở, ngành và chính quyền địa phương.
Các nhóm thông tin được chú trọng gồm đăng ký kinh doanh, cơ sở lưu trú, lượng khách, công suất phòng, hoạt động vận tải, thương mại điện tử, nền tảng số và các thông tin kinh tế - xã hội có liên quan.
Trên cơ sở những dữ liệu này, cơ quan Thuế thực hiện đối chiếu với hóa đơn điện tử, doanh thu kê khai và thông tin về quy mô hoạt động. Các trường hợp có dấu hiệu rủi ro được lựa chọn để phân tích, xác minh theo quy định.
Rà soát từ địa bàn để bổ sung dữ liệu
Một nội dung được Thuế tỉnh Lào Cai chú trọng trong triển khai Chỉ thị số 12/CT-UBND là phối hợp với chính quyền xã, phường để rà soát hoạt động kinh doanh trên địa bàn. Theo đó, chính quyền cơ sở có trách nhiệm rà soát tổ chức, hộ và cá nhân đang hoạt động, cũng như những trường hợp mới phát sinh trên địa bàn.
Các lĩnh vực được chú trọng gồm lưu trú, nhà hàng, dịch vụ du lịch, homestay, vận tải và kinh doanh trên nền tảng số.
Việc rà soát tại cơ sở bổ sung thông tin về hoạt động kinh doanh thực tế cho hệ thống dữ liệu. Đây là nguồn thông tin được sử dụng cùng với dữ liệu đăng ký, kê khai, hóa đơn và tài khoản thanh toán trong quá trình đối chiếu.
Đối với những trường hợp có sự khác biệt giữa quy mô hoạt động thực tế với thông tin đăng ký, kê khai, thông tin được chuyển đến cơ quan Thuế để thực hiện các bước kiểm tra, xác minh theo thẩm quyền.
Cách triển khai này đặt dữ liệu tại địa bàn vào cùng một quy trình với dữ liệu thuế điện tử. Chính quyền cơ sở nắm tình hình hoạt động kinh doanh; các sở, ngành cung cấp thông tin theo chức năng; cơ quan Thuế tổng hợp, đối chiếu và phân tích để thực hiện nhiệm vụ quản lý nghĩa vụ thuế.
Thuế tỉnh Lào Cai hiện đang tập trung hoàn thiện nguồn dữ liệu từ hộ kinh doanh, đồng thời kết nối thêm thông tin về hoạt động kinh tế trên địa bàn. Trên nền tảng đó, các thông tin về người nộp thuế, hoạt động kinh doanh, doanh thu và nghĩa vụ thuế được đối chiếu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Việc số hóa dữ liệu vì vậy không chỉ nằm ở việc đưa hộ kinh doanh lên các ứng dụng thuế điện tử, mà còn gắn với quá trình cập nhật thông tin từ cơ sở và kết nối nhiều nguồn dữ liệu phục vụ công tác thuế.