![]() |
| Công chức thuế tỉnh Phú Thọ thực hiện nghiệp vụ tại cơ quan Thuế. Ảnh: VH. |
Nâng ngưỡng khấu trừ thuế để phù hợp thực tiễn
Một trong những sửa đổi tác động trực tiếp đến nhiều người lao động và cá nhân có thu nhập không thường xuyên tại Nghị định số 253/2026/NĐ-CP là điều chỉnh mức thu nhập làm căn cứ khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10%.
Tại văn bản giới thiệu những điểm mới của Nghị định số 253/2026/NĐ-CP và Thông tư số 87/2026/TT-BTC, Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí cho biết, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP đã nâng giới hạn mức chi trả thu nhập làm căn cứ khấu trừ thuế từ 2 triệu đồng/lần theo quy định trước đây lên 5 triệu đồng/lần.
Việc điều chỉnh này nhằm phù hợp hơn với thực tiễn phát sinh các khoản thu nhập có giá trị nhỏ, đồng thời giảm số trường hợp phải thực hiện khấu trừ thuế ngay tại thời điểm chi trả.
Theo quy định mới, tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các khoản chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động, chỉ thực hiện khấu trừ thuế khi mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên.
So với quy định trước đây, việc nâng ngưỡng khấu trừ được đánh giá phù hợp hơn với thực tiễn khi nhiều khoản thu nhập phát sinh theo từng công việc, từng hợp đồng hoặc từng lần cung cấp dịch vụ có giá trị không lớn nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ thủ tục khấu trừ, kê khai và nộp thuế.
Đối tượng chịu tác động của quy định không chỉ là lao động thời vụ mà còn bao gồm nhiều nhóm cá nhân có thu nhập không thường xuyên như giảng viên thỉnh giảng, cộng tác viên, chuyên gia tư vấn, thành viên hội đồng, người thực hiện dịch vụ theo hợp đồng ngắn hạn hoặc các cá nhân có khoản thù lao phát sinh theo từng lần.
Theo Lãnh đạo Cục Quản lý, Giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí, việc nâng ngưỡng từ 2 triệu đồng lên 5 triệu đồng không làm thay đổi nguyên tắc quản lý thuế đối với các khoản thu nhập chịu thuế mà chủ yếu điều chỉnh ngưỡng thực hiện khấu trừ tại nguồn.
Qua đó, giảm số lượng trường hợp phải thực hiện thủ tục khấu trừ đối với các khoản chi trả nhỏ, góp phần giảm chi phí tuân thủ cho cả đơn vị chi trả và người nộp thuế.
Đáng chú ý, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP vẫn bảo đảm quyền lựa chọn của người nộp thuế. Theo đó, đối với khoản chi trả dưới 5 triệu đồng/lần, nếu cá nhân có yêu cầu thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn thực hiện khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%.
Quy định này giúp đáp ứng nhu cầu của người nộp thuế trong trường hợp cần chứng từ khấu trừ để phục vụ quyết toán thuế hoặc thực hiện các thủ tục khác theo quy định của pháp luật, đồng thời tạo sự linh hoạt trong quá trình thực hiện chính sách.
Việc điều chỉnh ngưỡng khấu trừ thể hiện cách tiếp cận của cơ quan quản lý theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát đầy đủ các khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế.
Thay vì mở rộng diện miễn thuế, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP tập trung điều chỉnh ngưỡng thực hiện khấu trừ cho phù hợp với giá trị thực tế của các khoản chi trả phát sinh hiện nay.
Bên cạnh việc giảm số trường hợp phải khấu trừ tại nguồn, quy định mới cũng góp phần giảm khối lượng công việc trong khâu kê khai, nộp thuế và cấp chứng từ khấu trừ đối với các đơn vị thường xuyên phát sinh nhiều khoản chi trả nhỏ cho cộng tác viên hoặc người lao động ngắn hạn.
Việc nâng ngưỡng khấu trừ chỉ là một trong nhiều sửa đổi về quản lý thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công. Nghị định số 253/2026/NĐ-CP đồng thời điều chỉnh một số quy định khác theo hướng giảm thủ tục nhưng vẫn bảo đảm quản lý chặt chẽ nghĩa vụ thuế.
Giảm khấu trừ tại nguồn, giảm cả nghĩa vụ quyết toán
Cùng với việc điều chỉnh ngưỡng khấu trừ tại nguồn, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP cũng nâng ngưỡng thu nhập vãng lai không phải quyết toán thuế từ 10 triệu đồng lên 15 triệu đồng/tháng bình quân trong năm.
![]() |
| Chính sách mới về thuế thu nhập cá nhân góp phần giảm thủ tục cho người nộp thuế. Ảnh: Minh họa, hỗ trợ bởi AI. |
Theo đó, cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng, đã được tổ chức, cá nhân chi trả khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
Mức ngưỡng mới tăng thêm 5 triệu đồng so với quy định trước đây, góp phần giảm đáng kể số lượng cá nhân phải thực hiện quyết toán chỉ vì phát sinh các khoản thu nhập không thường xuyên có giá trị không lớn.
Đây được xem là sửa đổi có ý nghĩa trong bối cảnh ngày càng nhiều cá nhân có thêm nguồn thu nhập từ hoạt động giảng dạy, tư vấn, cộng tác, làm việc theo dự án hoặc các hình thức làm việc linh hoạt bên cạnh công việc chính.
Nếu tiếp tục áp dụng ngưỡng cũ, nhiều trường hợp dù số thuế phát sinh không lớn vẫn phải thực hiện đầy đủ thủ tục quyết toán hằng năm.
Bên cạnh đó, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP vẫn quy định rõ trường hợp cá nhân quyết toán trực tiếp phải tổng hợp toàn bộ các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm và số thuế đã khấu trừ để xác định nghĩa vụ thuế theo quy định.
Quy định này bảo đảm nguyên tắc quản lý thống nhất, đồng thời phân định rõ giữa trường hợp được miễn quyết toán đối với thu nhập vãng lai và trường hợp phải quyết toán toàn bộ thu nhập.
Lãnh đạo Cục Quản lý, Giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí cho biết, các sửa đổi lần này được xây dựng trên cơ sở tổng kết quá trình thực thi chính sách thuế TNCN trong nhiều năm, rà soát các vướng mắc phát sinh từ thực tiễn và bảo đảm đồng bộ với Luật thuế TNCN số 109/2025/QH15.
| Làm rõ cách tính thuế đối với cổ phiếu thưởng, cổ phiếu cho người lao động Một nội dung đáng chú ý khác là Nghị định số 253/2026/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện quy định về thuế TNCN đối với cổ phiếu thưởng và cổ phiếu phát hành theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP). Theo đó, Nghị định kế thừa nguyên tắc quản lý hiện hành là người lao động chưa phải nộp thuế tại thời điểm nhận cổ phiếu thưởng; nghĩa vụ thuế chỉ phát sinh khi cá nhân thực hiện chuyển nhượng số cổ phiếu này. Để bảo đảm thống nhất trong quá trình thực hiện và bao quát các tình huống phát sinh trên thực tế, Nghị định bổ sung quy định cụ thể về căn cứ xác định thu nhập chịu thuế trong trường hợp doanh nghiệp không xác định được số tiền đã ghi nhận trên sổ sách kế toán hoặc đối với cổ phiếu ESOP được mua với giá ưu đãi. Quy định mới tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho doanh nghiệp và người lao động khi thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời thống nhất cách xác định thu nhập chịu thuế đối với cổ phiếu thưởng và ESOP. |