![]() |
| Người nộp thuế còn được giảm trừ đối với các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại các cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước với tổng mức không quá 24 triệu đồng/năm. Ảnh: HQ. |
Lần đầu tiên bổ sung khoản giảm trừ cho chi phí y tế, giáo dục - đào tạo
Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế Thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 đã cụ thể hóa một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật là bổ sung khoản giảm trừ đối với chi phí y tế và giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc.
Theo Lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính), đây là khoản giảm trừ hoàn toàn mới của chính sách thuế thu nhập cá nhân.
Khác với các khoản giảm trừ đã được áp dụng ổn định trong nhiều năm qua như giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế và người phụ thuộc, các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc…, pháp luật thuế thu nhập cá nhân trước đây chưa có quy định cho phép giảm trừ đối với các khoản chi khám bệnh, chữa bệnh và giáo dục - đào tạo.
Việc bổ sung khoản giảm trừ này thể hiện định hướng hoàn thiện chính sách thuế theo hướng gắn với thực tiễn đời sống của người dân, đồng thời thực hiện chủ trương của Luật thuế Thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 về mở rộng các khoản được giảm trừ khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công.
Đây có thể xem là một khoản hỗ trợ của Nhà nước đối với người nộp thuế phát sinh chi phí y tế, giáo dục - đào tạo cho bản thân và người phụ thuộc.
Chính sách góp phần tăng thu nhập khả dụng để người nộp thuế trang trải các nhu cầu chi tiêu khác, đồng thời tạo động lực để người dân đầu tư nhiều hơn cho việc chăm sóc sức khỏe và học tập.
Căn cứ khoản 2 Điều 11 Luật thuế Thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, khoản 2 Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định người nộp thuế được giảm trừ đối với các khoản chi khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả với tổng mức không quá 23 triệu đồng/năm.
Bên cạnh đó, người nộp thuế còn được giảm trừ đối với các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại các cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước với tổng mức không quá 24 triệu đồng/năm.
Khoản chi này bao gồm học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục và các khoản chi đào tạo kỹ năng chuyên môn tại cơ sở giáo dục - đào tạo.
Trước đó, trao đổi với chuyên trang Thuế - Hải quan (Tạp chí Kinh tế - Tài chính), ThS. Võ Thị Thục Viên, Tổng giám đốc Công ty Đào tạo Tư vấn thuế Sài Nam, Giảng viên doanh nhân Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cho rằng, pháp luật hiện hành đã có cơ chế xử lý đối với một số trường hợp đặc thù không phát sinh hóa đơn; điều quan trọng là cần có hướng dẫn rõ ràng, thống nhất để người dân dễ thực hiện, đồng thời vẫn bảo đảm nguyên tắc kiểm soát, minh bạch trong quản lý thuế.
Phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về hồ sơ, chứng từ
Trong văn bản gửi các cơ quan Thuế giới thiệu một số nội dung của Nghị định số 253/2026/NĐ-CP và Thông tư số 87/2026/TT-BTC, Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí cho biết, điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở việc bổ sung khoản giảm trừ mới mà còn quy định khá cụ thể về điều kiện để người nộp thuế được hưởng chính sách này.
Theo khoản 3 Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP, để được giảm trừ, trước hết người nộp thuế phải có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
![]() |
| Quy định mới giúp người nộp thuế chủ động hơn trong việc đăng ký người phụ thuộc. Ảnh: HQ. |
Riêng đối với chi phí khám bệnh, chữa bệnh, ngoài hóa đơn, chứng từ hợp pháp, người nộp thuế còn phải có Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Một yêu cầu quan trọng khác là hóa đơn, chứng từ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế. Điều này nhằm bảo đảm cơ quan thuế có căn cứ xác định đúng đối tượng được hưởng giảm trừ.
Bên cạnh yêu cầu về chứng từ, Nghị định cũng quy định rõ nguyên tắc xác định khoản chi được giảm trừ. Theo đó, các khoản chi chỉ được tính giảm trừ khi không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân; nguồn ngân sách nhà nước; quỹ bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế hoặc các khoản bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
Theo Lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí, việc quy định rõ các điều kiện nêu trên nhằm bảo đảm khoản giảm trừ phản ánh đúng phần chi phí thực tế mà người nộp thuế đã bỏ ra, đồng thời tránh phát sinh tình trạng một khoản chi được hưởng nhiều chính sách ưu đãi khác nhau.
Đặc biệt, để bảo đảm thực hiện thống nhất, khoản 4 Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP còn quy định nguyên tắc không tính trùng khoản giảm trừ.
Theo đó, trường hợp người nộp thuế đã áp dụng giảm thuế đối với các khoản chi cho y tế theo Điều 40 hoặc phát sinh các khoản chi về y tế, giáo dục - đào tạo thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, g và i khoản 4 Điều 8 của Nghị định 253/2026/NĐ-CP, thì các khoản chi này sẽ không tiếp tục được tính vào khoản giảm trừ theo khoản 2 Điều 49.
Quy định này góp phần bảo đảm tính công bằng trong thực hiện chính sách thuế, tránh tình trạng cùng một khoản chi được hưởng nhiều chính sách ưu đãi dưới các hình thức khác nhau.
Một điểm mới khác cũng liên quan trực tiếp đến việc thực hiện giảm trừ là thời hạn đăng ký người phụ thuộc.
Theo điểm a khoản 2 Điều 48 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP, việc đăng ký người phụ thuộc cùng hồ sơ chứng minh được thực hiện trước ngày 31/12 của năm tính thuế và tiếp tục được áp dụng ổn định cho các năm sau nếu thông tin người phụ thuộc không thay đổi.
Theo Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí, quy định này giúp người nộp thuế chủ động hơn trong việc đăng ký người phụ thuộc, đồng thời giảm việc phải thực hiện lại hồ sơ hằng năm khi thông tin không thay đổi, qua đó góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế.
Bên cạnh việc mở rộng các khoản được giảm trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP cũng quy định khá đầy đủ về hồ sơ, chứng từ, điều kiện và nguyên tắc thực hiện nhằm bảo đảm chính sách được triển khai thống nhất, minh bạch.