Thứ sáu 23/10/2026 23:51
Thời tiết: Hà Nội 28°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 27°C
TP Hồ Chí Minh 26°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Biến lợi thế của thị trường nội địa thành động lực thúc đẩy xuất khẩu

Ngô Kiến (Thực hiện)
Phát triển thị trường bán lẻ không chỉ nhằm kích cầu tiêu dùng nội địa mà còn tạo nền tảng để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm chi phí logistics và mở rộng xuất khẩu. Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Nguyễn Văn Thi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ cho rằng, một hệ thống phân phối hiện đại gắn với hạ tầng logistics đồng bộ sẽ trở thành bệ đỡ quan trọng để hàng Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Biến lợi thế của thị trường nội địa thành động lực thúc đẩy xuất khẩu

Một hệ thống phân phối hiện đại gắn với hạ tầng logistics đồng bộ sẽ trở thành bệ đỡ quan trọng để hàng Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ảnh minh họa.

Phóng viên: Trong bối cảnh nền kinh tế ghi nhận mức tăng trưởng tích cực nhưng cán cân thương mại đã chuyển sang nhập siêu, Kế hoạch phát triển thị trường bán lẻ Bộ Công thương vừa ban hành sẽ góp phần thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa trong nước, nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo nền tảng cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Thi: Ngày 2/7/2026, Bộ Công Thương ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 1626/QĐ-BCT. Điểm đáng chú ý của Kế hoạch này là không chỉ nằm ở mục tiêu mở rộng hệ thống bán lẻ, mà quan trọng hướng đến xây dựng một thị trường nội địa đủ mạnh để trở thành đầu ra ổn định cho sản xuất, qua đó tăng sức chống chịu của nền kinh tế trước những biến động từ bên ngoài.

Biến lợi thế của thị trường nội địa thành động lực thúc đẩy xuất khẩu

Một hệ thống phân phối hiện đại và thông suốt không chỉ giúp hàng hóa lưu chuyển thuận lợi, giảm chi phí trong toàn bộ chuỗi cung ứng mà còn tạo dư địa để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Quan trọng hơn, đây sẽ là nền tảng để củng cố thị trường trong nước, tạo đầu ra bền vững cho sản xuất, đồng thời nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Ông Nguyễn Văn Thi

Theo số liệu do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 3/7, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 ước tăng 8,39%, đưa mức tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm lên 8,18% so với cùng kỳ năm 2025.

Động lực tăng trưởng đến từ sự phục hồi mạnh mẽ của các đơn hàng xuất khẩu, năng lực sản xuất mới được bổ sung từ dòng vốn FDI và hiệu ứng lan tỏa của đầu tư công.

Bên cạnh đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát huy vai trò “trụ đỡ” với mức tăng 3,87%, trong khi khu vực dịch vụ tăng 8,09%, phản ánh sự cải thiện của sức cầu tiêu dùng trong nước và sự sôi động của thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng tích cực, nền kinh tế vẫn đối mặt với không ít thách thức và những điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.

Theo phân tích của Cục Thống kê, một trong những vấn đề đáng lưu ý là cán cân thương mại đã chuyển sang nhập siêu 16,65 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026.

Việc gia tăng nhập khẩu chủ yếu đến từ nhu cầu máy móc, thiết bị và linh kiện điện tử phục vụ mở rộng sản xuất, phản ánh kỳ vọng đầu tư của doanh nghiệp. Song, nếu lượng hàng nhập khẩu này không nhanh chóng được đưa vào sản xuất và tạo ra giá trị gia tăng, áp lực ứ đọng vốn và suy giảm hiệu quả sử dụng vốn sẽ gia tăng.

Ở góc độ doanh nghiệp, nhiều đơn vị, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn dù có năng lực sản xuất. Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống phân phối phát triển chưa đồng bộ, chi phí logistics còn cao, khiến hàng hóa khó tiếp cận người tiêu dùng, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường. Thực tế, trong 6 tháng đầu năm 2026 đã có 151,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế.

Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và đầu tư đồng bộ hạ tầng thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một hệ thống phân phối hiện đại và thông suốt không chỉ giúp hàng hóa lưu chuyển thuận lợi, giảm chi phí trong toàn bộ chuỗi cung ứng mà còn tạo dư địa để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Quan trọng hơn, đây sẽ là nền tảng để củng cố thị trường trong nước, tạo đầu ra bền vững cho sản xuất, đồng thời nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Phóng viên: Nhiều ý kiến cho rằng, hạ tầng bán lẻ và logistics là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, ông nghĩ sao về điều này?

Ông Nguyễn Văn Thi: Trong thương mại quốc tế, chất lượng sản phẩm chỉ là điều kiện cần. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp còn phải tối ưu chi phí logistics, thời gian giao hàng và hiệu quả của toàn bộ chuỗi cung ứng. Nếu chi phí lưu thông vẫn ở mức cao, hàng hóa Việt Nam sẽ gặp bất lợi về giá thành và khả năng đáp ứng các đơn hàng quốc tế.

Theo Báo cáo Logistics Việt Nam 2025, chi phí logistics của Việt Nam hiện chiếm khoảng 16-17% GDP, gần gấp đôi mức bình quân toàn cầu (8-10%). So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm có chi phí logistics cao, làm gia tăng gánh nặng cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu.

Vì vậy, việc đầu tư đồng bộ hệ thống phân phối, trung tâm logistics, kho bãi và hạ tầng vận tải sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt. Khi chuỗi logistics được vận hành thông suốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn thời gian lưu kho, giảm chi phí vận chuyển, tăng tốc độ quay vòng vốn và tối ưu quá trình lưu thông hàng hóa. Đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm, khả năng đáp ứng đơn hàng và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Đáng chú ý, việc kết nối hiệu quả giữa hệ thống phân phối trong nước với cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu và mạng lưới logistics quốc gia sẽ hình thành chuỗi cung ứng liên hoàn từ cơ sở sản xuất đến thị trường nội địa và xuất khẩu. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ mà còn nâng cao tính ổn định và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng trước các biến động bên ngoài.

Bên cạnh đó, định hướng phát triển logistics xanh là bước đi phù hợp với xu thế thương mại toàn cầu. Ngày càng nhiều thị trường nhập khẩu đưa các tiêu chí về phát thải, môi trường và phát triển bền vững vào điều kiện tiếp cận thị trường. Vì vậy, đầu tư vào hệ thống kho vận tiết kiệm năng lượng, phương tiện vận tải phát thải thấp và ứng dụng công nghệ trong quản trị chuỗi cung ứng không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí trong dài hạn mà còn nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, qua đó củng cố lợi thế cạnh tranh và mở rộng cơ hội xuất khẩu.

Phóng viên: Để biến lợi thế của thị trường nội địa thành động lực thúc đẩy xuất khẩu bền vững, theo ông, doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng cần tập trung vào những giải pháp gì nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Văn Thi: Trước hết, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy bán sản phẩm sang xây dựng chuỗi giá trị, kiểm soát tốt toàn bộ quá trình từ nguyên liệu, sản xuất, logistics đến phân phối. Đồng thời, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị chuỗi cung ứng, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về truy xuất nguồn gốc, môi trường và phát triển bền vững để thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.

Song song với nỗ lực của doanh nghiệp, các hiệp hội ngành hàng cần phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý và thị trường, chủ động cập nhật quy định, tiêu chuẩn mới, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo về chuyển đổi số, logistics xanh, ESG và quản trị chuỗi cung ứng.

Quan trọng hơn, hiệp hội ngành hàng cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, logistics, hệ thống phân phối và xuất khẩu để hình thành các chuỗi cung ứng có tính kết nối cao. Khi các mắt xích được phối hợp chặt chẽ, doanh nghiệp không chỉ giảm được chi phí, tối ưu nguồn lực mà còn nâng cao khả năng đáp ứng các đơn hàng quy mô lớn và yêu cầu ngày càng cao từ các thị trường nhập khẩu.

Về lâu dài, khi thị trường nội địa phát triển vững mạnh, hệ thống phân phối hiện đại và hạ tầng logistics được đầu tư đồng bộ, doanh nghiệp sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Đây chính là nền tảng để thúc đẩy xuất khẩu theo hướng bền vững và hiệu quả hơn.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 35,72 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ, song tăng trưởng giữa các nhóm hàng còn phân hóa. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao, đơn hàng chưa đồng đều và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, nâng năng suất, chủ động nguồn cung và cải thiện hiệu quả sản xuất là những điều kiện quan trọng để ngành dệt may duy trì đà tăng trưởng. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), phân tích sâu hơn về triển vọng cuối năm, nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Đến ngày 15/10/2026, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 481,37 tỷ USD, tăng 37,2% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực đến từ máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, cùng máy móc, thiết bị và nhiều nhóm nguyên liệu. Đà tăng này mở ra khả năng nhập khẩu cả năm vượt 600 tỷ USD, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giá trị gia tăng trong nước.
Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Các vụ điều tra mới, rà soát và áp thuế phòng vệ thương mại trong quý III/2026 tiếp tục đặt doanh nghiệp xuất khẩu hàng Việt Nam trước yêu cầu nâng cao năng lực ứng phó. Đồng thời, việc sử dụng công cụ phòng vệ tại thị trường nội địa cho thấy bảo vệ sản xuất phải gắn với hồ sơ đầy đủ, dữ liệu minh bạch và khả năng cạnh tranh thực chất.
Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, phát triển thị trường đa kênh trở thành yêu cầu cấp thiết với doanh nghiệp Việt Nam. Hội thảo do Cục Xúc tiến Thương mại tổ chức tạo diễn đàn trao đổi giải pháp, kết nối nguồn lực, củng cố đầu ra, giúp hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.
Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam duy trì đà tăng trưởng nhờ lượng hàng xuất khẩu gia tăng, trong khi giá bình quân vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước. Áp lực giảm giá đặt ra yêu cầu nâng chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu và mở rộng thị trường để giữ đà tăng trưởng, cải thiện giá trị xuất khẩu.
Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Trong chặng nước rút hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, xuất khẩu cần chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả. Tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, logistics, thị trường, đồng thời củng cố năng lực doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị nội địa là yêu cầu then chốt để xuất khẩu bứt tốc, đóng góp bền vững cho nền kinh tế.
Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, Việt Nam nhập khẩu 203.600 ô tô nguyên chiếc, kim ngạch gần 4,7 tỷ USD, tăng 24,5% về lượng và 29,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, thị trường Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai về số lượng và giữ ưu thế về kim ngạch.
Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam hiện nay còn lớn, nhưng khả năng khai thác phụ thuộc vào năng lực cung ứng sản phẩm đạt chuẩn và đáp ứng yêu cầu xanh. Làm chủ vật liệu, liên kết sản xuất và xây dựng dữ liệu phát thải đang trở thành những nhiệm vụ gắn trực tiếp với sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu cơ khí trên thị trường quốc tế.
Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Trước sức ép cạnh tranh toàn cầu, chuyển đổi số trở thành yêu cầu cấp thiết với ngành dệt may Việt Nam, Hội thảo của VITAS tại HanoiTex - HanoiFabric 2026 gợi mở giải pháp từ đổi mới công nghệ đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, kinh doanh, giúp doanh nghiệp nâng năng suất, thích ứng thị trường và tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Chín tháng năm 2026, thương mại hai chiều Việt Nam - Singapore đạt gần 42,8 tỷ SGD (tương đương khoảng 33,5 tỷ USD), tăng 46,8% so với cùng kỳ. Đà tăng trưởng cho thấy giao thương giữa hai nước tiếp tục mở rộng, đồng thời tạo thêm cơ hội để hàng hóa Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối khu vực.
Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thị trường thương mại điện tử (TMĐT) Đông Nam Á đang mở rộng, với doanh số vượt 200 tỷ USD và dòng chi tiêu hàng ngoại lên tới 23-24 tỷ USD. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, đây là cơ hội để mở rộng kênh bán hàng và tiếp cận người tiêu dùng khu vực. Khả năng tận dụng cơ hội phụ thuộc vào việc lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp, đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì chất lượng sản phẩm.
Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu, cán cân thương mại hàng hóa tháng 9/2026 đã xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD. Đây là tín hiệu tích cực trong chặng nước rút cuối năm, song chưa làm thay đổi hoàn toàn bức tranh thương mại khi tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD và nhập khẩu tiếp tục tăng nhanh hơn xuất khẩu. Vấn đề cần quan tâm không chỉ là trạng thái của cán cân thương mại, mà còn là khả năng chuyển hóa dòng hàng đầu vào phục vụ sản xuất và yêu cầu về nâng cao năng lực cung ứng nội địa để đạt được giá trị gia tăng cao hơn.
Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh không còn là xu hướng khuyến khích mà đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với doanh nghiệp cơ khí - điện, khi các tiêu chuẩn về môi trường, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng khắt khe.
Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Trong bối cảnh xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng trưởng mạnh, việc Hải quan Singapore cập nhật quy trình Chứng nhận nhập khẩu và Xác minh giao hàng (ICDV) đặt ra yêu cầu doanh nghiệp chủ động kiểm soát chứng từ, phối hợp với đối tác và tuân thủ thời hạn xử lý hồ sơ. Đây là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ chậm thông quan, phát sinh chi phí và bảo đảm hoạt động xuất khẩu thông suốt.
Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Năm 2026, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xuất khẩu tiếp tục là một trong những động lực quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Sau ba phần tư chặng đường, đà tăng trưởng thương mại tạo tiền đề cho những tháng cuối năm, đồng thời đặt ra yêu cầu nhìn nhận thấu đáo chất lượng tăng trưởng và khả năng đóng góp của xuất khẩu đối với nền kinh tế. Bước vào chặng nước rút, việc phát huy lợi thế các ngành hàng chủ lực, khai thác dư địa thị trường và tháo gỡ điểm nghẽn cần gắn với nâng cao năng lực sản xuất trong nước, gia tăng giá trị hàng hóa và chủ động thích ứng với yêu cầu của thị trường quốc tế; qua đó tạo cơ sở để chuyển hóa đà tăng trưởng thương mại thành nguồn lực củng cố nội lực và sức tự chủ của nền kinh tế.