Thứ bảy 05/09/2026 22:03
Thời tiết: Hà Nội 27°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 27°C
Hải Phòng 27°C
TP Hồ Chí Minh 29°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Biến lợi thế của thị trường nội địa thành động lực thúc đẩy xuất khẩu

Ngô Kiến (Thực hiện)
Phát triển thị trường bán lẻ không chỉ nhằm kích cầu tiêu dùng nội địa mà còn tạo nền tảng để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm chi phí logistics và mở rộng xuất khẩu. Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Nguyễn Văn Thi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ cho rằng, một hệ thống phân phối hiện đại gắn với hạ tầng logistics đồng bộ sẽ trở thành bệ đỡ quan trọng để hàng Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Biến lợi thế của thị trường nội địa thành động lực thúc đẩy xuất khẩu

Một hệ thống phân phối hiện đại gắn với hạ tầng logistics đồng bộ sẽ trở thành bệ đỡ quan trọng để hàng Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ảnh minh họa.

Phóng viên: Trong bối cảnh nền kinh tế ghi nhận mức tăng trưởng tích cực nhưng cán cân thương mại đã chuyển sang nhập siêu, Kế hoạch phát triển thị trường bán lẻ Bộ Công thương vừa ban hành sẽ góp phần thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa trong nước, nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo nền tảng cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Thi: Ngày 2/7/2026, Bộ Công Thương ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 1626/QĐ-BCT. Điểm đáng chú ý của Kế hoạch này là không chỉ nằm ở mục tiêu mở rộng hệ thống bán lẻ, mà quan trọng hướng đến xây dựng một thị trường nội địa đủ mạnh để trở thành đầu ra ổn định cho sản xuất, qua đó tăng sức chống chịu của nền kinh tế trước những biến động từ bên ngoài.

Biến lợi thế của thị trường nội địa thành động lực thúc đẩy xuất khẩu

Một hệ thống phân phối hiện đại và thông suốt không chỉ giúp hàng hóa lưu chuyển thuận lợi, giảm chi phí trong toàn bộ chuỗi cung ứng mà còn tạo dư địa để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Quan trọng hơn, đây sẽ là nền tảng để củng cố thị trường trong nước, tạo đầu ra bền vững cho sản xuất, đồng thời nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Ông Nguyễn Văn Thi

Theo số liệu do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 3/7, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 ước tăng 8,39%, đưa mức tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm lên 8,18% so với cùng kỳ năm 2025.

Động lực tăng trưởng đến từ sự phục hồi mạnh mẽ của các đơn hàng xuất khẩu, năng lực sản xuất mới được bổ sung từ dòng vốn FDI và hiệu ứng lan tỏa của đầu tư công.

Bên cạnh đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát huy vai trò “trụ đỡ” với mức tăng 3,87%, trong khi khu vực dịch vụ tăng 8,09%, phản ánh sự cải thiện của sức cầu tiêu dùng trong nước và sự sôi động của thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng tích cực, nền kinh tế vẫn đối mặt với không ít thách thức và những điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.

Theo phân tích của Cục Thống kê, một trong những vấn đề đáng lưu ý là cán cân thương mại đã chuyển sang nhập siêu 16,65 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026.

Việc gia tăng nhập khẩu chủ yếu đến từ nhu cầu máy móc, thiết bị và linh kiện điện tử phục vụ mở rộng sản xuất, phản ánh kỳ vọng đầu tư của doanh nghiệp. Song, nếu lượng hàng nhập khẩu này không nhanh chóng được đưa vào sản xuất và tạo ra giá trị gia tăng, áp lực ứ đọng vốn và suy giảm hiệu quả sử dụng vốn sẽ gia tăng.

Ở góc độ doanh nghiệp, nhiều đơn vị, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn dù có năng lực sản xuất. Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống phân phối phát triển chưa đồng bộ, chi phí logistics còn cao, khiến hàng hóa khó tiếp cận người tiêu dùng, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường. Thực tế, trong 6 tháng đầu năm 2026 đã có 151,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế.

Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và đầu tư đồng bộ hạ tầng thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một hệ thống phân phối hiện đại và thông suốt không chỉ giúp hàng hóa lưu chuyển thuận lợi, giảm chi phí trong toàn bộ chuỗi cung ứng mà còn tạo dư địa để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Quan trọng hơn, đây sẽ là nền tảng để củng cố thị trường trong nước, tạo đầu ra bền vững cho sản xuất, đồng thời nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Phóng viên: Nhiều ý kiến cho rằng, hạ tầng bán lẻ và logistics là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, ông nghĩ sao về điều này?

Ông Nguyễn Văn Thi: Trong thương mại quốc tế, chất lượng sản phẩm chỉ là điều kiện cần. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp còn phải tối ưu chi phí logistics, thời gian giao hàng và hiệu quả của toàn bộ chuỗi cung ứng. Nếu chi phí lưu thông vẫn ở mức cao, hàng hóa Việt Nam sẽ gặp bất lợi về giá thành và khả năng đáp ứng các đơn hàng quốc tế.

Theo Báo cáo Logistics Việt Nam 2025, chi phí logistics của Việt Nam hiện chiếm khoảng 16-17% GDP, gần gấp đôi mức bình quân toàn cầu (8-10%). So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm có chi phí logistics cao, làm gia tăng gánh nặng cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu.

Vì vậy, việc đầu tư đồng bộ hệ thống phân phối, trung tâm logistics, kho bãi và hạ tầng vận tải sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt. Khi chuỗi logistics được vận hành thông suốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn thời gian lưu kho, giảm chi phí vận chuyển, tăng tốc độ quay vòng vốn và tối ưu quá trình lưu thông hàng hóa. Đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm, khả năng đáp ứng đơn hàng và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Đáng chú ý, việc kết nối hiệu quả giữa hệ thống phân phối trong nước với cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu và mạng lưới logistics quốc gia sẽ hình thành chuỗi cung ứng liên hoàn từ cơ sở sản xuất đến thị trường nội địa và xuất khẩu. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ mà còn nâng cao tính ổn định và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng trước các biến động bên ngoài.

Bên cạnh đó, định hướng phát triển logistics xanh là bước đi phù hợp với xu thế thương mại toàn cầu. Ngày càng nhiều thị trường nhập khẩu đưa các tiêu chí về phát thải, môi trường và phát triển bền vững vào điều kiện tiếp cận thị trường. Vì vậy, đầu tư vào hệ thống kho vận tiết kiệm năng lượng, phương tiện vận tải phát thải thấp và ứng dụng công nghệ trong quản trị chuỗi cung ứng không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí trong dài hạn mà còn nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, qua đó củng cố lợi thế cạnh tranh và mở rộng cơ hội xuất khẩu.

Phóng viên: Để biến lợi thế của thị trường nội địa thành động lực thúc đẩy xuất khẩu bền vững, theo ông, doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng cần tập trung vào những giải pháp gì nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Văn Thi: Trước hết, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy bán sản phẩm sang xây dựng chuỗi giá trị, kiểm soát tốt toàn bộ quá trình từ nguyên liệu, sản xuất, logistics đến phân phối. Đồng thời, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị chuỗi cung ứng, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về truy xuất nguồn gốc, môi trường và phát triển bền vững để thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.

Song song với nỗ lực của doanh nghiệp, các hiệp hội ngành hàng cần phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý và thị trường, chủ động cập nhật quy định, tiêu chuẩn mới, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo về chuyển đổi số, logistics xanh, ESG và quản trị chuỗi cung ứng.

Quan trọng hơn, hiệp hội ngành hàng cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, logistics, hệ thống phân phối và xuất khẩu để hình thành các chuỗi cung ứng có tính kết nối cao. Khi các mắt xích được phối hợp chặt chẽ, doanh nghiệp không chỉ giảm được chi phí, tối ưu nguồn lực mà còn nâng cao khả năng đáp ứng các đơn hàng quy mô lớn và yêu cầu ngày càng cao từ các thị trường nhập khẩu.

Về lâu dài, khi thị trường nội địa phát triển vững mạnh, hệ thống phân phối hiện đại và hạ tầng logistics được đầu tư đồng bộ, doanh nghiệp sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Đây chính là nền tảng để thúc đẩy xuất khẩu theo hướng bền vững và hiệu quả hơn.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tiếp nhận hồ sơ miễn trừ phòng vệ thương mại đối với 21 mã vụ việc

Tiếp nhận hồ sơ miễn trừ phòng vệ thương mại đối với 21 mã vụ việc

Doanh nghiệp đáp ứng điều kiện có thể nộp hồ sơ đề nghị miễn trừ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại cho thời kỳ năm 2026 tại 21 mã vụ việc theo thông báo của Bộ Công Thương. Các vụ việc trong danh sách liên quan đến nhiều mặt hàng như thép, nhôm, đường mía, bột ngọt, sorbitol, vật liệu hàn, bàn ghế và thiết bị điện gió.
Xuất khẩu thép vào EU cần lưu tâm 4 vấn đề

Xuất khẩu thép vào EU cần lưu tâm 4 vấn đề

Theo Quy định thực thi (EU) 2026/1963 của Uỷ ban châu Âu (EC), từ ngày 1/10/2026, doanh nghiệp thép Việt Nam sẽ phải đáp ứng yêu cầu cao hơn về khả năng truy xuất nguồn gốc, chứng minh nơi “nấu chảy và đúc” và số mẻ luyện bằng hồ sơ có thể kiểm chứng. Chỉ một khoảng trống trong chuỗi dữ liệu cũng có thể làm gia tăng rủi ro khi thông quan, TS. Hà Thị Thanh Hoa, Phó Trưởng khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh chia sẻ với phóng viên Tạp chí kinh tế - Tài chính về rủi ro có thể phát sinh và những vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý để hàng hóa không bị ách tắc tại cửa khẩu EU.
Không gia hạn thuế chống bán phá giá với sorbitol nhập khẩu

Không gia hạn thuế chống bán phá giá với sorbitol nhập khẩu

Bộ Công Thương quyết định không gia hạn việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm sorbitol có xuất xứ từ Ấn Độ, Indonesia và Trung Quốc. Quyết định có hiệu lực từ ngày 23/11/2026.
Việt Nam - Myanmar: Thúc đẩy kim ngạch hai chiều sớm đạt 1 tỷ USD

Việt Nam - Myanmar: Thúc đẩy kim ngạch hai chiều sớm đạt 1 tỷ USD

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Myanmar Min Aung Hlaing và Phu nhân từ ngày 4-6/9/2026 tạo thêm động lực mới cho quan hệ hai nước, nhất là hợp tác kinh tế - thương mại. Trên nền tảng quan hệ hữu nghị và dư địa thị trường còn rộng mở, Việt Nam và Myanmar có nhiều cơ hội thúc đẩy giao thương ngày càng thực chất, hiệu quả, bền vững.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiến sát 50 tỷ USD

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiến sát 50 tỷ USD

Tám tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Rau quả, thủy sản, sản phẩm chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng, trong khi, cà phê, gạo, cao su cho thấy áp lực về giá và lượng, đặt ra yêu cầu cần nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Ngành điều cần thúc đẩy chế biến chuyên sâu để tiến vào các phân khúc giá trị cao

Ngành điều cần thúc đẩy chế biến chuyên sâu để tiến vào các phân khúc giá trị cao

Việt Nam đang cung cấp gần 90% lượng hạt điều nhập khẩu vào Hoa Kỳ và tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu tại Đức. Tuy nhiên, khi kim ngạch tăng chủ yếu nhờ giá, cơ cấu sản phẩm biến động và các nước trồng điều đẩy mạnh chế biến, ngành điều cần chuyển nhanh từ lợi thế quy mô sang chất lượng, chế biến sâu và khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng.
Hà Nội nỗ lực hoàn thành mục tiêu xuất khẩu năm 2026 đạt khoảng 23,3 tỷ USD

Hà Nội nỗ lực hoàn thành mục tiêu xuất khẩu năm 2026 đạt khoảng 23,3 tỷ USD

Tám tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của TP. Hà Nội duy trì đà tăng tích cực; nhập khẩu tăng mạnh cho thấy sản xuất, đầu tư mở rộng, trong khi xuất khẩu phục hồi rõ nét. Kết quả này tạo nền tảng để Thành phố tăng tốc cuối năm, góp phần đạt mục tiêu GRDP tăng trưởng hai con số.
Doanh nghiệp cần lập một bộ hồ sơ chuẩn để tránh bị "kẹt" ngay trước cửa khẩu

Doanh nghiệp cần lập một bộ hồ sơ chuẩn để tránh bị "kẹt" ngay trước cửa khẩu

Tại Quyết định BPJPH số 4/2026, Indonesia thắt chặt việc kiểm soát sản phẩm halal nhập khẩu từ nước ngoài. Theo chuyên gia, ThS. La Quí Dương, Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, đây không chỉ là thêm một thủ tục, mà là phép thử đối với năng lực chuẩn hóa và kiểm soát chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam.
Kết nối chuỗi cung ứng, mở cơ hội xuất khẩu cho hàng Việt

Kết nối chuỗi cung ứng, mở cơ hội xuất khẩu cho hàng Việt

Tham dự triển lãm "Viet Nam International Sourcing 2026", các doanh nghiệp Việt Nam thêm cơ hội kết nối trực tiếp với các đối tác quốc tế, nắm bắt yêu cầu thị trường và mở rộng xuất khẩu.
Lạng Sơn thông quan trên 8.900 phương tiện chở hàng dịp nghỉ lễ 2/9

Lạng Sơn thông quan trên 8.900 phương tiện chở hàng dịp nghỉ lễ 2/9

Dịp nghỉ lễ 2/9, trên 8.900 phương tiện hàng hóa xuất nhập khẩu được thông quan qua các cửa khẩu Lạng Sơn, góp phần duy trì lưu chuyển nông sản ổn định.
Xuất nhập khẩu 8 tháng vượt 770 tỷ USD

Xuất nhập khẩu 8 tháng vượt 770 tỷ USD

Tám tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tiếp tục mở rộng, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên mức cao nhất từ trước đến nay. Xuất khẩu tăng khá, song nhập khẩu tăng nhanh hơn, phản ánh nhu cầu sản xuất, đầu tư, đồng thời đặt ra yêu cầu cần nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức tự chủ của nền kinh tế.
Nhập khẩu tăng mạnh, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất

Nhập khẩu tăng mạnh, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất

Kim ngạch nhập khẩu tăng cao làm dấy lên những lo ngại về con số nhập siêu. Nhưng nhìn ở một khía cạnh tích cực khác, việc tăng trưởng nhập khẩu cũng cho thấy các doanh nghiệp đang chủ động ổn định nguồn nguyên phụ liệu; máy móc, thiết bị… để đảm bảo sản xuất ổn định trong bối cảnh tình hình địa chính trị thế giới nhiều biến động dẫn đến nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu luôn hiện hữu.
Xuất khẩu rau quả tiến gần mốc 6 tỷ USD

Xuất khẩu rau quả tiến gần mốc 6 tỷ USD

Xuất khẩu rau quả của Việt Nam ghi nhận những tín hiệu tích cực khi kim ngạch xuất khẩu 8 tháng năm 2026 đạt xấp xỉ 5,87 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước.
Đà Nẵng tăng tốc xuất khẩu và duy trì đà xuất siêu

Đà Nẵng tăng tốc xuất khẩu và duy trì đà xuất siêu

Tháng 8/2026, xuất khẩu hàng hóa của TP. Đà Nẵng tăng trưởng hai con số, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu 8 tháng năm 2026 lên hơn 3,4 tỷ USD và duy trì đà xuất siêu. Kết quả này cho thấy, sức bật thương mại đang được củng cố, đồng thời đặt ra yêu cầu khai thác hiệu quả hơn thị trường, logistics và chuỗi liên kết khu vực.
Dự báo năm 2026 xuất khẩu cà phê sẽ tăng 8-10% so với cùng kỳ

Dự báo năm 2026 xuất khẩu cà phê sẽ tăng 8-10% so với cùng kỳ

Xuất khẩu cà phê Việt Nam được dự báo tiếp tục duy trì đà tích cực trong những tháng cuối năm 2026, với sản lượng cả năm có thể tăng 8-10% so với năm 2025. Nguồn cung cải thiện cùng nhu cầu Robusta gia tăng được kỳ vọng tạo thêm cơ hội cho cà phê Việt Nam.