![]() |
| Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc tăng mạnh 44,4%. Ảnh: Internet |
Số liệu xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ lực từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, xuất khẩu thủy sản tiếp tục là điểm sáng trong nhóm hàng nông lâm thuỷ sản. Giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 4/2026 ước đạt 947,8 triệu USD, đưa tổng kim ngạch 4 tháng đầu năm lên 3,59 tỷ USD, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ là 3 thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất của Việt Nam, với thị phần lần lượt đạt 26,7%, 13,8% và 13%. Đáng chú ý, xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc trong 3 tháng đầu năm tăng mạnh 52,3%, trong khi xuất khẩu sang Nhật Bản tăng nhẹ 1,8%. Ngược lại, thị trường Hoa Kỳ giảm 7,4%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Trung Quốc là thị trường có mức tăng mạnh nhất, còn Hoa Kỳ là thị trường duy nhất ghi nhận giảm.
Đối với ngành gỗ và sản phẩm gỗ, giá trị xuất khẩu tháng 4/2026 ước đạt 1,43 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch 4 tháng đầu năm lên 5,42 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4% so với cùng kỳ năm trước.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm 49,1% thị phần. Trung Quốc và Nhật Bản đứng tiếp theo với thị phần tương ứng 15,2% và 13,5%. Trong 3 tháng đầu năm, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ giảm 8,2%, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 47,2% và Nhật Bản tăng 6,1%.
Đáng chú ý, trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Hà Lan là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 2,1 lần, trong khi Hàn Quốc giảm mạnh nhất với mức giảm 20,5%.
Với mặt hàng gạo, tháng 4/2026 Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,1 triệu tấn, đạt giá trị 492,7 triệu USD. Lũy kế 4 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo đạt 3,3 triệu tấn với kim ngạch 1,57 tỷ USD, giảm 2,3% về khối lượng và giảm 11,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Giá gạo xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 468,4 USD/tấn, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước. Philippin tiếp tục là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần 48,5%. Trung Quốc và Gana đứng tiếp theo với thị phần lần lượt 15,6% và 7%.
Xuất khẩu gạo sang Philippin tăng 6,7%, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 44,4%. Ngược lại, thị trường Gana giảm 28,7%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Trung Quốc là thị trường tăng mạnh nhất, còn Bờ Biển Ngà giảm mạnh nhất với mức giảm 59,6%.
Đối với cà phê, tháng 4/2026 xuất khẩu ước đạt 198,8 nghìn tấn với giá trị 845,8 triệu USD. Tính chung 4 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê đạt 789,3 nghìn tấn và 3,6 tỷ USD, tăng 15% về khối lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Giá cà phê xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm đạt khoảng 4.555 USD/tấn, giảm 19,8% so với cùng kỳ năm 2025. Đức, Italia và Tây Ban Nha là 3 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt 15,3%, 8,2% và 7,4%.
Trong 3 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê sang Đức giảm 11,2%, Italia giảm 4,3% và Tây Ban Nha giảm 1%. Tuy nhiên, trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Trung Quốc là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 80,8%, còn Philippin giảm mạnh nhất với mức giảm 28,4%.
Với mặt hàng cao su, xuất khẩu tháng 4/2026 ước đạt 73,6 nghìn tấn với giá trị 146,7 triệu USD. Lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 463,8 nghìn tấn và 860,9 triệu USD, tăng 2,4% về khối lượng nhưng giảm 1,4% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Giá cao su xuất khẩu bình quân đạt khoảng 1.856 USD/tấn, giảm 3,8%. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất với thị phần chiếm 66,1%. Inđônêxia và Ấn Độ đứng tiếp theo với thị phần lần lượt 6,6% và 6%.
Trong khi xuất khẩu cao su sang Trung Quốc giảm 10,3%, thì Inđônêxia tăng 2,2 lần và Ấn Độ tăng 42,3%. Mêhicô là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 4,4 lần, còn Braxin giảm mạnh nhất với mức giảm 42,1%.
Đối với mặt hàng chè, xuất khẩu tháng 4/2026 ước đạt 8 nghìn tấn với giá trị 14,8 triệu USD. Tính chung 4 tháng đầu năm, xuất khẩu chè đạt 33,7 nghìn tấn và 57,8 triệu USD, giảm 5,6% về khối lượng và giảm nhẹ 0,04% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Giá chè xuất khẩu bình quân đạt gần 1.717 USD/tấn, tăng 5,9%. Đài Loan, Pakixtan và Trung Quốc là 3 thị trường tiêu thụ chè lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt 11,2%, 7,9% và 7,6%.
Trong 3 tháng đầu năm, xuất khẩu chè sang Đài Loan tăng 16,5%, trong khi Pakixtan giảm mạnh 75,2% và Trung Quốc giảm 5,4%. TVQ Arập Thống Nhất là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 2,9 lần, còn Pakixtan là thị trường giảm mạnh nhất.