![]() |
| Hoạt động nghiệp vụ tại Hải quan Hưng Yên (Chi cục Hải quan khu vực IV). Ảnh: Thái Bình. |
Chuyển đổi số theo sát tốc độ tăng của thương mại
Một trong những yêu cầu lớn đặt ra đối với cơ quan Hải quan hiện nay là giải quyết tốt mối quan hệ giữa tạo thuận lợi thương mại với nâng cao hiệu quả quản lý.
Khi quy mô xuất nhập khẩu, số doanh nghiệp và số lượng tờ khai tăng nhanh, phương thức quản lý dựa nhiều vào xử lý thủ công không còn phù hợp. Công nghệ, dữ liệu và quản lý rủi ro vì vậy trở thành những yếu tố quan trọng để giải quyết bài toán này.
Thực tế tại Chi cục Hải quan khu vực IV cho thấy sức ép đối với hoạt động quản lý ngày càng lớn. Từ đầu năm đến 14/9, có 5.045 doanh nghiệp làm thủ tục tại đơn vị với gần 1,25 triệu tờ khai; đáng chú ý, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 80 tỷ USD, tương đương kết quả cả năm 2025.
Khối lượng công việc tăng nhanh trong bối cảnh yêu cầu phải thực hiện tốt song song hai nhiệm vụ là đảm bảo công tác quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi thương mại, thông quan hàng hóa nhanh chóng cho doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt cả hai yêu cầu nêu trên, một trong những giải pháp được Chi cục chú trọng thực hiện là đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa hải quan.
Từ khai thác dữ liệu thời gian thực, quản lý rủi ro, dịch vụ công trực tuyến đến ứng dụng AI hỗ trợ doanh nghiệp, chuyển đổi số đang trở thành công cụ quan trọng để đơn vị vừa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, vừa rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Điểm đáng chú ý là chuyển đổi số tại Hải quan khu vực IV không chỉ dừng ở việc trang bị thêm máy móc hay số hóa một số quy trình riêng lẻ, mà từng bước được gắn với đổi mới phương thức quản trị.
Riêng trong quý III, Chi cục tiếp tục nâng cấp hạ tầng mạng nội bộ, thay thế thiết bị chuyển mạch vùng WAN, tăng cường an toàn tài khoản nghiệp vụ; đồng bộ máy trạm của các đơn vị về hệ thống máy chủ quản lý theo tên miền HYE.
Đơn vị đã có 163 máy trạm được gia nhập hệ thống quản lý tập trung, cài đặt phần mềm kiểm soát virus và 113 địa chỉ thư điện tử được chuyển đổi từ tên miền cũ sang máy chủ quản lý mới.
Đồng thời, đơn vị duy trì hạ tầng kỹ thuật phục vụ VNACCS/VCIS và các hệ thống nghiệp vụ hoạt động ổn định, liên tục.
Đây là phần “hạ tầng nền” ít được nhìn thấy từ bên ngoài, nhưng lại có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng vận hành thông suốt của một cơ quan Hải quan hiện đại.
Một bước tiến đáng chú ý khác là triển khai công cụ Dashboard (công cụ hỗ trợ) phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Thông qua công cụ này, lãnh đạo đơn vị có thể theo dõi tình hình xuất nhập khẩu theo thời gian thực với các chỉ số trực quan về kim ngạch, tờ khai, tỷ lệ phân luồng, thu thuế, doanh nghiệp ưu tiên, doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ; đồng thời cảnh báo các doanh nghiệp gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất không phát sinh hoạt động xuất nhập khẩu trong các khoảng thời gian 30, 60 và 90 ngày.
Nếu dữ liệu trước đây chủ yếu phục vụ thống kê sau khi hoạt động đã phát sinh, việc khai thác dữ liệu theo thời gian thực tạo điều kiện để đơn vị chuyển dần sang quản trị chủ động thông qua nhận diện xu hướng, phát hiện dấu hiệu bất thường và đưa ra quyết định nghiệp vụ kịp thời.
![]() |
| Hoạt động nghiệp vụ tại Hải quan Hà Nam (Chi cục Hải quan khu vực IV). Ảnh: Thái Bình. |
Lấy doanh nghiệp làm trung tâm của chuyển đổi số
Giá trị cuối cùng của chuyển đổi số trong lĩnh vực hải quan không chỉ nằm ở hiệu quả quản trị nội bộ, mà phải được thể hiện bằng chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Chính vì vậy, song song với các nền tảng nghiệp vụ của ngành, Chi cục Hải quan khu vực IV đã và đang tìm cách mở rộng kênh tương tác với cộng đồng doanh nghiệp.
Điển hình là việc duy trì Zalo Official Account kết hợp Chatbot tự động tích hợp AI để hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nhất là các doanh nghiệp tham gia chương trình tự nguyện tuân thủ pháp luật hải quan.
Đáng chú ý, đơn vị không đặt trọng tâm đơn thuần vào việc “có Chatbot”, mà tiếp tục chuẩn hóa dữ liệu đầu vào, cập nhật nội dung giải đáp vướng mắc theo quy định mới.
Đây là yếu tố quan trọng bởi đối với lĩnh vực hải quan, một công cụ hỗ trợ chỉ thực sự có giá trị khi thông tin cung cấp bảo đảm chính xác, cập nhật và thống nhất với chính sách hiện hành.
Cùng với công nghệ, công tác quản lý rủi ro đang tạo thêm dư địa cho tạo thuận lợi hóa thương mại và nâng cao hiệu quả quản lý. Đơn cử như quý III/2026, Chi cục thực hiện phân luồng cho 473.236 tờ khai xuất nhập khẩu, trong đó luồng Xanh (được hệ thống VNACCS thông quan tự động), chiếm đến 80,54%; trong khi luồng Vàng (kiểm tra chi tiết hồ sơ) chiếm 17,84% và luồng Đỏ (kiểm tra thực tế hàng hóa) chỉ chiếm 1,62%.
Tỷ lệ luồng Xanh cao cho thấy ý nghĩa của phương thức quản lý dựa trên dữ liệu và phân tích, đánh giá rủi ro. Bởi, khi đó, nguồn lực của cơ quan Hải quan được tập trung để kiểm tra các lô hàng, doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao, trong khi doanh nghiệp tuân thủ được tạo điều kiện thông quan nhanh hơn.
Chi cục Hải quan khu vực IV xác định, thời gian tới việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tiếp tục được triển khai mạnh mẽ. Đặc biệt là chuẩn bị hạ tầng, hệ thống nghệ thông tin và nhân lực để triển khai mô hình thông quan tập trung; phối hợp thực hiện số hóa chứng từ hồ sơ hải quan; tiếp tục phát triển quan hệ đối tác Hải quan - Doanh nghiệp và nâng cao chất lượng phục vụ doanh nghiệp FDI…
Đặc biệt, Chi cục đặt mục tiêu tiếp tục hoàn thiện Chatbot phục vụ cả công chức trong tra cứu nghiệp vụ, tập trung vào phân loại, mã số hàng hóa, điều kiện xuất nhập khẩu, giấy phép, chính sách quản lý và tiêu chuẩn hàng hóa.
Nhìn từ kết quả quý III, có thể thấy côn gtacs chuyển đổi số tại Chi cục Hải quan khu vực IV đang được triển khai trên nhiều lớp từ hạ tầng kỹ thuật, dữ liệu, quản lý rủi ro, dịch vụ công đến tương tác với doanh nghiệp và hỗ trợ công chức thực thi nhiệm vụ. Đặc biệt, khi có sự kết nối đồng bộ giữa các yếu tố này sẽ tạo nên sự thay đổi căn bản hơn trong phương thức quản lý.
Với quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu lũy kế gần 80 tỷ USD và khoảng 1,25 triệu tờ khai được xử lý, yêu cầu đặt ra không chỉ là “đưa công nghệ vào nghiệp vụ”, mà là dùng công nghệ để thay đổi cách quản lý, nâng cao năng suất xử lý, giảm chi phí tuân thủ và tạo môi trường thương mại thuận lợi hơn.
Điều này không chỉ giúp Chi cục Hải quan khu vực IV hoàn thành tốt nhiệm vụ của đơn vị, đóng góp vào kết quả chung của ngành Hải quan, mà còn góp phần quan trọng vào cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tại 2 tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình.
Đó cũng là cơ sở để hiện thực hóa phương châm công vụ mà Chi cục Hải quan khu vực IV xác định là “Đổi mới tư duy - Quản lý hiện đại - Đồng hành phát triển”, trong đó mỗi công chức coi doanh nghiệp là đối tác hợp tác, hướng tới nền hải quan chuyên nghiệp, hiện đại và phục vụ ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển.