![]() |
| Ảnh minh họa |
Nghị quyết số 79-NQ/TW (Nghị quyết 79) về phát triển kinh tế nhà nước vừa được Bộ Chính trị ban hành đặt ra lộ trình đến 2030, phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Cùng với đó, xây dựng một số tập đoàn kinh tế, DNNN có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế.
Bình luận về mục tiêu này, TS Bùi Quý Thuấn, Trưởng Ban Nghiên cứu, Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA), Hiệp hội Đầu tư tài chính Việt Nam cho rằng, định hướng xây dựng các "sếu đầu đàn" có năng lực cạnh tranh toàn cầu cho thấy, Nghị quyết 79 đã đặt ra yêu cầu đối với các tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh đóng vai trò là trung tâm kết nối, giúp các doanh nghiệp tư nhân trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Điều này không chỉ nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế mà còn cải thiện vị thế của Việt Nam trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia toàn cầu.
Theo TS Bùi Quý Thuấn, để đánh giá một doanh nghiệp lọt vào top 500 doanh nghiệp toàn cầu cần nhìn vào một số chỉ tiêu định lượng như: doanh nghiệp cần đạt doanh thu tối thiểu từ 30 – 35 tỷ USD/năm; mức độ cạnh tranh toàn cầu: doanh nghiệp không chỉ hoạt động và cạnh tranh trong nội địa mà là cuộc đấu với các "gã khổng lồ" đa quốc gia có bề dày lịch sử và công nghệ vượt trội; tính biểu tượng: doanh nghiệp có thương hiệu toàn cầu và năng lực quản trị xuất sắc.
So sánh với thực tế Việt Nam, hiện tại không có DNNN nào của Việt Nam nằm trong Fortune Global 500 (danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới dựa trên doanh thu). Các DNNN lớn nhất như Viettel, Petrolimex hay EVN chỉ xếp hạng trong Top 500-1000 toàn cầu nếu tính theo một số tiêu chí, nhưng vẫn cách xa ngưỡng vào Top 500 nếu xét về doanh thu (thường yêu cầu doanh thu tối thiểu 30-35 tỷ USD).
Phân tích thêm, TS Bùi Quý Thuấn nhấn mạnh, Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển với GDP khoảng 400-500 tỷ USD, trong khi top 500 toàn cầu bao gồm các "gã khổng lồ" như Apple, Nvidia của Hoa Kỳ, Saudi Aramco của Ả Rập Xê Út, BYD của Trung Quốc,…
Như vậy, để đạt được mục tiêu, các DNNN Việt Nam cần tăng trưởng doanh thu gấp 2-3 lần trong vòng 5-10 năm tới, đòi hỏi tốc độ mở rộng vượt trội. Đồng thời nhấn mạnh, Nghị quyết 79 đưa ra mục tiêu này khả thi trong điều kiện hiện nay với mục đích thúc đẩy cải cách DNNN quyết liệt và nhanh hơn nữa.
Các điều kiện để hiện thực hóa mục tiêu này, theo chuyên gia cần tập trung vào các giải pháp như: cải cách quản trị và minh bạch. Theo đó DNNN phải áp dụng tiêu chuẩn quản lý quốc tế; đầu tư vào đổi mới và công nghệ: DNNN cần dẫn dắt chuyển đổi số, kinh tế xanh và công nghệ cao, như Nghị quyết nhấn mạnh; mở rộng thị trường quốc tế và chuỗi giá trị: DNNN phải tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu qua M&A, liên doanh hoặc xuất khẩu.
Bên cạnh đó, cần huy động nguồn lực và hợp tác công – tư theo hướng nhà nước cần cung cấp vốn ưu đãi nhưng không trợ cấp vô hạn, đồng thời khuyến khích PPP để chia sẻ rủi ro.
Cùng với các mục tiêu về lượng DNNN lọt top doanh nghiệp lớn của khu vực và thế giới, Nghị quyết số 79 cũng đặt ra yêu cầu cải cách thể chế và quản trị theo chuẩn mực quốc tế. 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng các nguyên tắc quản trị theo OECD, tương đương với chuẩn mực quốc tế về quản trị công ty.
Theo TS Bùi Quý Thuấn, thực tế trong quản trị DNNN ba yếu tố thể chế, con người và cơ chế giám sát có mối quan hệ hữu cơ. Và thể chế, trong đó cốt lõi là sự giao thoa giữa tư duy quản lý hành chính và quản trị kinh doanh được đánh giá là "điểm nghẽn của các điểm nghẽn”, ảnh hưởng trực tiếp đến con người và cơ chế giám sát.
Hiện nay, DNNN đang bị kẹt giữa hai vai trò: một thực thể kinh doanh và một đơn vị chấp hành mệnh lệnh hành chính. Trong bối cảnh hội nhập và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA... thể chế chưa kịp thích ứng với chuẩn mực quốc tế, khiến DNNN khó áp dụng quản trị hiện đại như minh bạch tài chính hay trách nhiệm giải trình.
Đơn cử như sự thiếu rõ ràng về quyền sở hữu. Theo chuyên gia, hiện nay, DNNN vẫn chịu sự can thiệp của nhiều bộ, ngành. Một quyết định đầu tư lớn phải qua quá trình phê duyệt tầng nấc, làm mất đi tính thời điểm – "sống còn" trong kinh doanh.
Về cơ chế giám sát, chuyên gia cho rằng thời gian qua cơ chế giám sát đang nặng về "tiền kiểm", yếu về "hậu kiểm", thường tập trung vào việc tuân thủ quy trình hơn là hiệu quả cuối cùng.
Đơn cử, cơ chế giám sát thiếu các chỉ số hiệu quả (KPI) thực chất khi chúng ta chưa có một hệ thống giám sát dựa trên giá trị gia tăng hoặc lợi nhuận trên vốn (ROE) đủ sắc bén theo chuẩn mực quốc tế để đánh giá công bằng năng lực của doanh nghiệp
Về yếu tố con người, chuyên gia cho rằng, không phải vì doanh nhân Việt Nam kém tài, mà vì môi trường DNNN chưa đủ sức hút và độ an toàn cho những tài năng hàng đầu.
Từ những điểm nghẽn nói trên, TS Bùi Quý Thuấn cho rằng, những yêu cầu về cải cách thể chế và quản trị theo chuẩn mực quốc tế đặt ra tại Nghị quyết số 79 là bước đột phá về mặt thể chế, quản trị tốt giúp giảm thiểu tham nhũng, lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.
“Khi khu vực kinh tế nhà nước hoạt động minh bạch, nó sẽ tạo ra tín hiệu tích cực cho môi trường đầu tư nói chung, thu hút thêm dòng vốn trong và ngoài nước vào các mục tiêu phát triển dài hạn”, chuyên gia nhấn mạnh.