![]() |
| Công chức Hải quan khu vực VI bàn bạc các phương án triển khai phần mềm. Ảnh: Hải quan khu vực VI |
Số hóa đi vào từng khâu nghiệp vụ
Điểm đáng chú ý trong quá trình chuyển đổi số của Chi cục Hải quan khu vực VI là công nghệ đang được đặt trực tiếp vào các khâu phát sinh nghiệp vụ, từ quản lý phương tiện, khai báo hàng hóa, thu lệ phí đến đánh giá công chức và xử lý dịch vụ công trực tuyến.
Trọng tâm trong tháng 8/2026 là hoàn thiện Phần mềm Quản lý phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh. Trên cơ sở yêu cầu thực tế, Chi cục đã tích hợp chức năng khai báo, tiếp nhận và xác nhận Bản kê thông tin hàng hóa nhập khẩu đối với phương tiện vận tải qua cửa khẩu đường bộ. Từ ngày 1/9/2026, phần mềm tích hợp Bảng kê hàng hóa nhập khẩu chính thức vận hành thống nhất tại các hải quan cửa khẩu đường bộ trực thuộc Chi cục.
Việc tích hợp này có ý nghĩa khi dữ liệu không còn được xử lý tách rời giữa thông tin phương tiện và thông tin hàng hóa. Cục Hải quan cũng đã yêu cầu Chi cục nghiên cứu khả năng kết nối, trao đổi dữ liệu với hệ thống quản lý phương tiện vận tải xuất nhập cảnh của Cục, phục vụ trường hợp phương tiện đi, về qua các cửa khẩu khác nhau.
Quy mô vận hành cho thấy hệ thống đã trở thành một công cụ nghiệp vụ thực tế. Từ tháng 10/2025 đến nay, phần mềm đã xử lý trên 598.000 tờ khai phương tiện vận tải, hỗ trợ thu trên 11 tỷ đồng lệ phí hải quan. Riêng từ khi triển khai thanh toán điện tử bằng mã QR ngày 1/4/2026, trên 223.000 tờ khai đã thực hiện thanh toán điện tử, với số tiền gần 4,5 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 80%.
Giá trị của ứng dụng không chỉ nằm ở việc thay thế thao tác thủ công bằng thao tác điện tử. Quan trọng dữ liệu được hình thành ngay trong quá trình doanh nghiệp thực hiện thủ tục và có thể tiếp tục được khai thác cho các bước xử lý tiếp theo. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu quản lý hải quan dựa trên dữ liệu.
Cùng với hệ thống nghiệp vụ, Chi cục cũng đưa phần mềm đánh giá, xếp loại công chức theo chỉ số KPI vào vận hành từ ngày 1/9/2026. Dịch vụ công trực tuyến tiếp tục được duy trì với 633 hồ sơ phát sinh lũy kế đến hết tháng 8, trong đó 590 hồ sơ đã phát hành kết quả và không có hồ sơ quá hạn.
Có thể nói, đây là bước chuyển từ ứng dụng công nghệ cho từng tác nghiệp sang tổ chức hoạt động trên các hệ thống dữ liệu có cấu trúc, trong đó quy trình nghiệp vụ và dữ liệu được thiết kế để hỗ trợ lẫn nhau.
Nếu Phần mềm Quản lý phương tiện cho thấy chuyển đổi số đã đi vào vận hành thường xuyên, thì mô hình thông quan tập trung đòi hỏi bước chuyển cao hơn: Tổ chức lại quy trình xử lý trên nền tảng dữ liệu và hạ tầng công nghệ thống nhất.
![]() |
| Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan khu vực VI. Ảnh: H.Nụ |
Đáng chú ý, số hóa chứng từ được xác định là một cấu phần của mô hình. Chi cục Hải quan khu vực VI đã hoàn tất mạng LAN tầng 1 với 40 nút mạng, thiết lập đường truyền WAN tầng 2 kết nối trực tiếp với máy chủ trung tâm.
Ông Nguyễn Hữu Vượng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực VI nhấn mạnh, chuyển đổi số phải gắn với từng quy trình nghiệp vụ; dữ liệu phải được chuẩn hóa, kết nối và khai thác xuyên suốt giữa các khâu. Đây là nền tảng để tổ chức thông quan tập trung và triển khai các phương thức quản lý hiện đại tại cửa khẩu.
Cùng với thông quan tập trung, Chi cục đang xây dựng phương án tự động thu phí hạ tầng cửa khẩu. Qua khảo sát thực tế tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị và Chi Ma, đơn vị đã hoàn thiện dự thảo bài toán nghiệp vụ, theo hướng sử dụng phần mềm 167+1790 làm trung tâm điều phối, kết nối API với cơ sở dữ liệu đăng kiểm, cổng thanh toán VietQR và hạ tầng VNPT để tự động gạch nợ, phát hành biên lai điện tử.
Yêu cầu đặt ra các hệ thống phải có khả năng kết nối và trao đổi dữ liệu, thay vì hình thành những ứng dụng độc lập. Tuy nhiên, Hải quan khu vực VI cũng xác định một số vấn đề cần tiếp tục xử lý, như chuẩn hóa dữ liệu phương tiện từ hệ thống đăng kiểm, kết nối kỹ thuật đồng bộ và cơ chế xác định mức phí đối với một số phương tiện đặc thù.
Với đề án Cửa khẩu thông minh, Chi cục đã rà soát phương án vận hành thử nghiệm xe IGV tại khu vực mốc 1119-1120. Thực tế chỉ ra hạ tầng kỹ thuật phía Việt Nam chưa đồng bộ, các hệ thống barie thông minh, camera AI, cân điện tử tự động và hàng rào cứng biệt lập chưa hoàn thiện; vì vậy một số khâu kiểm soát vẫn phải thực hiện thủ công.
Điều đó cho thấy chuyển đổi số tại cửa khẩu không thể chỉ giải quyết bằng phần mềm. Dữ liệu, quy trình, hạ tầng kỹ thuật và cơ chế phối hợp phải được triển khai đồng bộ. Đây cũng là lý do Chi cục Hải quan khu vực VI đang đồng thời chuẩn bị cho thông quan tập trung, Cửa khẩu thông minh, Nền tảng cửa khẩu số và mô hình quản lý thống nhất kiểm tra chuyên ngành.
Từ những bước đi đang triển khai, chuyển đổi số tại Hải quan khu vực VI đang chuyển dần từ giai đoạn “ứng dụng công nghệ” sang “tổ chức lại nghiệp vụ trên nền dữ liệu”. Đây là yếu tố quyết định khả năng rút ngắn quy trình, tăng tính minh bạch, giảm thao tác thủ công và nâng cao năng lực phục vụ doanh nghiệp khi các mô hình thông quan mới được vận hành.