![]() |
| Khu vực DNNN đóng vai trò chi phối, chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực quan trọng, thiết yếu của nền kinh tế. |
Tại Việt Nam, tính đến cuối năm 2024, cả nước có 671 doanh nghiệp nhà nước và 142 doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước. Theo đó, tổng tài sản là 4,19 triệu tỷ đồng; vốn chủ sở hữu là 1,985 triệu tỷ đồng; tổng doanh thu đạt hơn 3 triệu tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt gần 243 nghìn tỷ đồng.
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế/vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân chung năm 2024 của doanh nghiệp nhà nước là 12% và tổng số phát sinh phải nộp ngân sách nhà nước là gần 397 nghìn tỷ đồng.
Tính riêng doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, mặc dù chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong nền kinh tế (khoảng 0,08% số doanh nghiệp hoạt động) nhưng lại nắm giữ nguồn lực lớn của nền kinh tế (khoảng 7% tổng tài sản và 10% vốn chủ sở hữu của toàn bộ doanh nghiệp, chiếm khoảng 25,78% tổng vốn sản xuất, kinh doanh, 23,4% giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn, đóng góp 28% tổng số thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước).
Quy mô tài sản bình quân của một doanh nghiệp nhà nước là 4.100 tỷ đồng, cao gấp 10 lần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và gấp 109 lần doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam đang chiếm thị phần rất lớn trong một số lĩnh vực, như năng lượng, viễn thông, ngân hàng…, đóng góp hơn 29% GDP của đất nước.
Tổng hợp dữ liệu ngành Thuế cho thấy, doanh nghiệp nhà nước hoạt động tập trung trong 17 ngành, lĩnh vực kinh tế. Tỷ trọng về quy mô (tính theo tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu) tập trung chủ yếu ở một số ngành, nghề, như năng lượng, khai khoáng, thông tin và truyền thông, hạ tầng giao thông, vận tải...,
So sánh tăng trưởng doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên cơ sở dữ liệu ngành Thuế cho thấy, giai đoạn 2021 – 2023, tổng tài sản khối doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân 2,7%/năm, trong khi đó khối FDI và ngoài quốc danh tăng bình quân tương ứng 6,9%/năm và 15%/năm.
Vốn chủ sở hữu khối doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân 2,4%/năm, trong khi khối FDI, ngài quốc doanh tăng bình quân tương ứng 7,5%/năm và 12,75%/năm.
Về doanh thu, tổng doanh thu khối doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân gần 10%/năm, trong khi khối FDI và ngoài quốc doanh tăng bình quân tương ứng 4,8%/năm và 11%/năm.
Về lợi nhuận, tổng lợi nhuận trước thuế khối doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân 8,5%/năm, trong khi khối FDI và NQD tăng trưởng âm (lợi nhuận trước thuế năm 2023 thấp hơn năm 2022).
Về nộp ngân sách, đóng góp ngân sách nhà nước khối doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân 18%/năm, trong khi khối FDI và ngoài quốc doanh tăng bình quân tương ứng 5%/năm và 7,4%/năm (số nộp ngân sách nhà nước tách phần lợi nhuận được chia, cổ tức được chia và thu dầu thô).
Như vậy, khối doanh nghiệp nhà nước mặc dù tăng trưởng tài sản, vốn chủ sở hữu thấp hơn khối doanh nghiệp FDI và ngoài quốc danh (thể hiện việc đầu tư bổ sung vốn, mở rộng sản xuất, đầu tư dự án mới còn thấp), tuy nhiên hiệu quả hoạt động (tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận) và nộp ngân sách nhà nước lại cao hơn khá nhiều so với khối FDI và ngoài quốc doanh.
Quan điểm của Đảng, Nhà nước tiếp tục khẳng định doanh nghiệp nhà nước là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.
Trong đó, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước để làm tốt vai trò dẫn dắt phát triển, bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thật sự trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Doanh nghiệp nhà nước cần hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu; được cơ cấu lại theo hướng tập trung vào lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh; lành mạnh hóa tài chính, nâng cao trình độ công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế để nâng cao hiệu quả hoạt động.